Hà Nội 1946

Hà Nội 1946 Hà Nội 1946 - Quyết tử để Tổ quốc Quyết sinh
(1)

Ảnh tư liệu hiện vật vụ án Ôn Như Hầu 12-7-1946 do PA03 CAHN cung cấp. Nguồn: Báo Thanh niên.Được gọi tên theo địa...
12/07/2026

Ảnh tư liệu hiện vật vụ án Ôn Như Hầu 12-7-1946 do PA03 CAHN cung cấp. Nguồn: Báo Thanh niên.

Được gọi tên theo địa danh ngôi nhà số 7 Ôn Như Hầu (nay là Phố Nguyễn Gia Thiều), trong thực tế chuyên án này là chiến dịch trấn áp đồng loạt của công an Hà Nội nhằm vào hàng loạt trụ sở của Đại Việt Quốc dân đảng (Đại Việt) và Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) trong nội thành Hà Nội. Chiến dịch diễn ra với sự hiệp đồng giữa các lực lượng Công an và Tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu: lực lượng Tự vệ chiến đấu và Công an xung phong tổ chức tấn công đánh chiếm mục tiêu và canh gác, lực lượng trinh sát Công an tiến hành vây bắt, khống chế các đối tượng và điều tra hiện trường.

Ngày 12-7-1946 sau này được chọn làm ngày truyền thống của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam.

80 NĂM TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN 1946-202606-7-1946: Hội nghị FontainbleauHội nghị Fontainbleau là cuộc đàm phán chính thức ...
06/07/2026

80 NĂM TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN 1946-2026

06-7-1946: Hội nghị Fontainbleau

Hội nghị Fontainbleau là cuộc đàm phán chính thức cấp quốc gia cuối cùng giữa VNDCCH và Pháp về vấn đề tương lai của Đông Dương. Đây là nỗ lực đấu tranh ngoại giao quan trọng nhất của VNDCCH nhằm vãn hồi hòa bình trước nguy cơ chiến tranh Việt-Pháp lan rộng ra toàn quốc.

Hội nghị chính thức khai mạc sáng 06-7-1946 tại lâu đài Fontainbleau, cách thủ đô Paris của Pháp khoảng 60km. Phái đoàn VNDCCH do ông Phạm Văn Đồng, Phó Trưởng Ban Thường trực Quốc hội làm trưởng đoàn gồm 12 thành viên chính cùng các chuyên viên. Phái đoàn Pháp do Thượng nghị sĩ Max Andre đứng đầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có mặt ở Paris với tư cách thượng khách của chính phủ Pháp nên không tham gia trực tiếp vào hội nghị mà giữ vai trò chỉ đạo và vận động ảnh hưởng.

Như có thể dự đoán, các cuộc đàm phán cũng diễn ra trong bế tắc, tương tự như Hội nghị Đà Lạt trước đó khi hai bên không thể tìm được tiếng nói chung về những vấn đề quan trọng nhất. Phía VNDCCH kiên định với mục tiêu độc lập, chủ quyền và thống nhất hoàn toàn của Việt Nam. Phía Pháp vẫn theo đuổi đường lối kiểm soát Đông Dương trong liên bang thuộc Pháp: tách Nam Bộ và Tây Nguyên thành các quốc gia tự trị trong liên bang, khống chế về mặt ngoại giao, kinh tế và thuế quan, kiểm soát quân đội và trì hoãn kế hoạch rút quân hoàn toàn khỏi Đông Dương sau 1951 theo thỏa thuận của Hiệp định Sơ bộ 06-3-1946…

Hội nghị diễn ra trong bối cảnh trước và trong quá trình đàm phán đã liên tiếp diễn ra các diễn biến bất lợi. Ngày 01-6-1946, Cao ủy Pháp, Đô đốc d’Argenlieu ra tuyên bố thành lập “Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ”, hiện thực hóa tham vọng chia tách Nam Bộ khỏi Việt Nam. Đồng thời ngay trước khi hội nghị khai mạc, ngày 21-6-1946 quân Pháp tấn công đánh chiếm Nam Tây Nguyên và ngày 23-6-1946, quân Pháp lại Hà Nội bất ngờ chiếm đóng Phủ Toàn quyền cũ. Những bước leo thang khiến cho tình hình tại Đông Dương ngày càng trở nên căng thẳng, trong tháng 7 và 8-1946 đã xuất hiện các cuộc xung đột vũ trang Việt-Pháp lớn trên miền Bắc.

Ngày 01-8-1946, Cao ủy d’Argenlieu khai mạc hội nghị về quy chế Liên bang Đông Dương tại Đà Lạt. Trước động thái này, phái đoàn VNDCCH quyết định ngừng đàm phán để phản đối. Mặc dù vẫn có những nỗ lực trao đổi trong tháng 8 và 9-1946 nhằm cố gắng đạt được ít nhất 1 tạm ước riêng cho vấn đề kinh tế và tài chính, cuối cùng hai bên không đi tới được thỏa thuận nào. Ngày 10-9-1946, phái đoàn VNDCCH chấm dứt tiếp xúc và lên đường về nước ngày 14-9-1946.

Ảnh:
1. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lễ đón tiếp chính thức ngày 04-7-1946.
2, 3. Phái đoàn VNDCCH do ông Phạm Văn Đồng đứng đầu tại Hội nghị Fontainbleau.
4. Danh sách các thành viên của phái đoàn VNDCCH trong hồ sơ của an ninh Pháp tháng 5-1946, tại thời điểm này dự kiến trưởng đoàn là Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam. Tự hào nhẹ chút là người nhà tôi cũng có mặt trong hội nghị lịch sử này ở vai trò hỗ trợ cho đoàn đàm phán chính.

Một hỏa điểm súng máy của quân Pháp phòng thủ sân bay Gia Lâm năm 1946-1947. Ảnh của CCB Pháp Jacques Blanchard, Trung đ...
02/07/2026

Một hỏa điểm súng máy của quân Pháp phòng thủ sân bay Gia Lâm năm 1946-1947. Ảnh của CCB Pháp Jacques Blanchard, Trung đoàn kỵ binh truy tiễu số 1 Pháp.

Trong giai đoạn này phòng thủ của căn cứ vẫn còn tương đối sơ sài. Theo mô tả của ông Đặng Việt Châu khi đánh vào sân bay thì vòng ngoài là các vị trí cảnh giới, vòng trong là hàng rào và sát máy bay có các ụ gác bằng thùng chắn cho lính canh. Rạng sáng 17-1-1947 Đội Quyết tử Đặc khu Ngọc Thụy đã đột nhập thành công và đánh vào khu tập kết máy bay tiêm kích Spitfire. Ngay sau trận đánh này đơn vị bảo vệ căn cứ đã phải yêu cầu cấp trên bổ sung thêm dây thép g*i và mìn để gia cố phòng thủ. Đồng thời bộ chỉ huy Pháp cũng điều bộ phận thiết giáp và bộ binh cơ giới thuộc 1 trong 3 liên đội cơ động chiến thuật bên nội thành sang Gia Lâm để tăng cường tuần tra vòng ngoài.

80 NĂM TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN 1946-202629-6-1946: Thành lập các đơn vị pháo binh Thủ đô (*).Sáng 29-6-1946, tại Trại Vệ q...
29/06/2026

80 NĂM TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN 1946-2026

29-6-1946: Thành lập các đơn vị pháo binh Thủ đô (*).

Sáng 29-6-1946, tại Trại Vệ quốc đoàn Trung ương (Trại Bảo an binh cũ) ở 40 Hàng Bài, Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái thay mặt Bộ Quốc phòng đọc quyết định thành lập các trung đội pháo binh:

- Trung đội đóng tại Pháo đài Láng (Yên Lãng) do ông Nguyễn Ưng Gia (nguyên là hạ sĩ quan bảo vệ pháo đài trong quân đội Pháp trước đây) làm trung đội trưởng và Nguyễn Văn Khoát làm chính trị viên, trang bị 2 khẩu pháo 75mm.

- Trung đội đóng tại Pháo đài Xuân Canh do ông Phạm Văn Đôn (cựu pháo thủ của Pháp) làm trung đội trưởng và Trương Thành Phao làm chính trị viên, trang bị 1 khẩu pháo 75mm.

- Trung đội đóng tại Pháo đài Xuân Tảo do ông Trần Văn Uyên làm trung đội trưởng và Nguyễn Hựu làm chính trị viên, trang bị 2 khẩu pháo 75mm (**).

Đến tháng 9-1946, trung đội đóng tại Pháo đài Thổ Khối (sau đó chuyển về Đào Xuyên) được thành lập do ông Nguyễn Uyên làm trung đội trưởng, trang bị 2 khẩu pháo 75mm.

Cùng từ thời điểm này, Đại đội Pháo binh Thủ đô được thành lập để thống nhất chỉ huy cả 4 pháo đài, do ông Phạm Văn Đôn làm đại đội trưởng và Tô Na làm chính trị viên (Pháo đài Xuân Canh lúc này do ông Doãn Tuế - cựu pháo thủ của Pháp làm trung đội trưởng).

Lực lượng pháo binh Thủ đô ra đời ngày 29-6-1946 là những đơn vị pháo binh chính quy đầu tiên, được trang bị mạnh nhất và được tổ chức tốt nhất tại thời điểm đó của quân đội VNDCCH. Ngày 29-6-1946 sau này được lấy làm ngày truyền thống của Binh chủng Pháo binh, nay là bộ đội Pháo binh - Tên lửa QĐNDVN.

Ảnh: Một đơn vị pháo binh Thủ đô trong 60 ngày đêm 1946-1947. Ảnh của PV Nguyễn Bá Khoản.
--------------------------------------

(*) Khá nhiều tư liệu, kể cả bộ ký sự "Pháo binh nhân dân Việt Nam Những chặng đường chiến đấu" do Binh chủng Pháo binh xuất bản năm 1982 nói "Đoàn Pháo binh Thủ đô" thành lập ngày 29-6-1946. Tuy nhiên không có tư liệu nào, kể cả hồi ức của các ông Phạm Văn Đôn, Doãn Tuế nhắc đến "Đoàn" này như 1 đơn vị thực sự (nghĩa là có bộ máy chỉ huy, cơ chế hoạt động...). Trên thực tế các trung đội pháo binh đều nhận lệnh trực tiếp từ bộ chỉ huy Khu Hà Nội chứ không thông qua "Đoàn" (điều này được xác nhận qua các văn bản chỉ thị gốc của mặt trận). Chỉ đến sau tháng 9-1946 cơ chế chỉ huy thống nhất các pháo đài mới có với việc thành lập Đại đội Pháo binh Thủ đô. Rất có thể "Đoàn Pháo binh Thủ đô" chỉ là 1 danh hiệu chung chung chứ không có vai trò thực tế. Sách "Lịch sử Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam (1946-2016)" do Bộ tư lệnh Pháo binh xuất bản năm 2016 khi viết về sự kiện 29-6-1946 chỉ nói là thành lập các trung đội pháo binh, không nhắc đến khái niệm "Đoàn Pháo binh Thủ đô" nữa.

(**) Các tư liệu ngày nay đều viết rằng ngày 29-6-1946 có 3 trung đội pháo binh được thành lập là Yên Lãng (Láng), Xuân Canh và Xuân Tảo. Tuy nhiên dựa vào các văn bản chỉ thị của bộ chỉ huy Khu Hà Nội thì cho đến cuối tháng 7-1946 dường như mới chỉ có 2 trung đội ở Pháo đài Láng và Xuân Canh đã đi vào hoạt động. Điều này sẽ nói trong 1 bài khác.

TRUNG ĐỘI HOÀNG HOA THÁM QUYẾT TỬTôi không nhớ rõ ngày nào trung đội tự vệ ở tiểu khu Bạch Mai được thành lập và lấy tên...
24/06/2026

TRUNG ĐỘI HOÀNG HOA THÁM QUYẾT TỬ

Tôi không nhớ rõ ngày nào trung đội tự vệ ở tiểu khu Bạch Mai được thành lập và lấy tên là Trung đội Hoàng Hoa Thám. Nhưng chắc chắn thời gian đó là sau ngày Chính phủ ta ký với Xanh-tơ-ni, đại diện chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ 6/3.

Chúng tôi quen biết và thân nhau không chỉ vì cùng một khu phố, mà còn vì những mối quan hệ đồng chí trong những ngày hoạt động Thanh niên Cứu quốc trước Cách mạng Tháng Tám, trong những ngày được cử đi học lớp quân sự ngắn hạn, nhất là trong những ngày bàn mưu, tính kế kiếm tìm vũ khí tự trang bị cho mình. Khi ấy lính Trung Hoa Quốc dân Đảng thường xuống Bạch Mai vào các làng lân cận mua rơm của dân chở về cho ngựa ăn. Chúng mua một cướp mười, tuy nhiên chúng vẫn là thành viên của một đội quân không mấy no đủ. Chúng tôi chia nhau tìm mọi cách gần gũi chúng để gạ gẫm đổi bánh ngọt, bánh mỳ, giò chả, rượu, lấy súng đạn. Có lần chúng tôi đã chuốc rượu cho bọn lính mã phu này để tước súng của chúng. Tỉnh dậy, biết bị lừa nhưng chúng không còn cách nào khác, ngoài việc làu bàu chửi rủa.

Nhân ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, Trung đội Hoàng Hoa Thám cùng với các chị em trong Hội Phụ nữ tổ chức nhiều buổi biểu diễn kịch, ca nhạc ở rạp hát Lạc Thành Đài và rạp chiếu bóng Bạch Mai. Chúng tôi không bán vé, chỉ quyên tiền khán giả, kẻ ít người nhiều, ai ai cũng nhiệt tình ủng hộ chúng tôi. Cộng với số vũ khí đổi và lấy được của quân Tàu - Tưởng, trung đội có 2 khẩu STEN, 14 khẩu súng trường, vừa của Nga vừa của Tàu, một khẩu súng ngắn và 30 quả lựu đạn. Trung đội chưa được trang bị đầy đủ, nhưng với số vũ khí đó, có thể nói chúng tôi đã “giàu có” so với những ngày tập lăn lê bò toài, toàn bằng súng và lựu đạn gỗ, ngoài một khẩu súng trường dùng để tập tháo lắp.

Các cán bộ Trung đội Hoàng Hoa Thám không do cấp trên chỉ định mà do anh em tự bầu. Tôi được anh em bầu làm trung đội trưởng, đồng chí Nam làm trung đội phó, ba đồng chí Mạc, Đề, Thuận được cử phụ trách 3 tiểu đội. Trong trung đội có nhiều anh em trong một gia đình cùng tham gia như gia đình tôi có 5 người, gia đình đồng chí Nguyễn Như Trương 4 người, và gia đình đồng chí Hoàng Đình Mạc 3 người.

Sau đêm 19/12 quân Pháp bị chặn tại các phố trên, nên công việc của Trung đội Hoàng Hoa Thám lúc đó là cùng với bà con chưa tản cư, dồn sức củng cố ụ ở Ô Cầu Dền và đắp thêm một ụ trước cửa rạp hát Lạc Thành Đài. Các tường nhà từ ngã tư Trung Hiền đến Ô Cầu Dền được đục thông suốt. Không phải bận bịu lo ăn, do đã được các chị em trong Hội Phụ nữ tiếp tế, nên chúng tôi rảnh tay dồn sức cho việc chuẩn bị chiến đấu. Hàng ngày trừ một số anh em trực ở nhà, chúng tôi đưa hai tiểu đội lên các phố trên giúp đồng đội tiễu trừ bọn việt gian và nếu có cơ hội, phối hợp với những trung đội khác đánh địch. Ngoài những ổ tác chiến cắm ở những khu phố của chúng ta, bọn Pháp còn tung nhiều tên việt gian ăn mặc như Vệ quốc đoàn quấy rối nơi ta đóng quân.

Ngày 4/1/1947, tiểu đội Hoàng Đình Mạc trên đường đi tập kích địch trở về, đến hồ Ha Le thì bị một phát súng bắn lén nổ ngay vào đội ngũ. May không đồng chí nào bị thương, Hoàng Đình Mạc lập tức cho anh em vượt tường xông vào một biệt thự nơi anh nghi có địch ẩn nấp. Anh đã không nhầm. Một tên Tây lai đã nấp trong căn buồng nhỏ tại biệt thự này. Nhưng hắn chỉ bắn lén, không đủ can đảm đương đầu với tiểu đội. Sau khi bắt trói tên Tây lai, anh em còn lục tìm được một khẩu trung liên Hốt - kít với nhiều băng đạn. Mặc dù là tiểu đội trưởng, Hoàng Đình Mạc xin giữ khẩu trung liên này. Đó là một điều trái khoáy bởi vì người tiểu đội trưởng cần phải lo chỉ huy anh em. Khi ấy khẩu trung liên là thứ vũ khí hiếm quý, nên anh em chỉ giao cho những ai được tin cậy. Trong trường hợp này thấy không có điều gì cản trở giữa hai nhiệm vụ tiểu đội trưởng và xạ thủ trung liên nên tiểu đội nhất trí. Hoàng Đình Mạc vốn là vận động viên bơi lội cao lớn. Anh mang khẩu trung liên nhẹ nhàng như mang khẩu súng trường.

Ngày 10/01/1947, đồng chí Đức - một Vệ quốc quân được Uỷ ban kháng chiến liên khu cử xuống Trung đội Hoàng Hoa Thám, phụ trách chính trị viên. Theo lệnh trên đồng chí Đức thông báo: Trung đội Hoàng Hoa Thám từ lúc đó là một đơn vị Vệ quốc đoàn thuộc quyền chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Quang Tuần. Sáng ngày 14/01 năm ấy, tôi được lệnh dẫn trung đội tới Quỳnh Lôi bố trí dọc theo cánh đồng làng này. Tin tức quân báo cho biết có thể địch sẽ đánh sang phía nam Liên khu II. Ban chỉ huy trung đội nhận lệnh và bàn bạc xong, điều tiểu đội 1 bố trí nhô ra phía trước. Đi với tiểu đội 1 có đồng chí chính trị viên trung đội và đồng chí trung đội phó. Kể từ đêm đầu của cuộc kháng chiến, ngoài những trận lẻ tẻ bắn dăm bảy phát súng, chúng tôi chưa có dịp “đánh đấm ra trò”, nên lúc này anh em đều mong đợi một cuộc đọ súng quyết liệt. Đêm ấy chúng tôi đào công sự trong gió rét căm căm và sưởi ấm bằng những điếu thuốc lá truyền tay nhau cho đến khi trời sáng dần.

Tháng chạp sương xuống nhiều ngăn tầm mắt không nhìn được xa. Khoảng 6 giờ sáng tiểu đội 1 báo về: có nhiều người đang tiến dọc con đê từ phía Vĩnh Tuy xuống Hoàng Mai, chưa rõ địch hay ta. Mọi người bàn tán và chờ lệnh. Theo đồng chí trung đội phó Nam thì đó là địch và xin cho nổ súng. Nhưng chính trị viên trung đội Đức ngăn lại. Cần xem xét kỹ để khỏi bắn nhầm đồng đội, vì có đội viên thấy thấp thoáng trong hàng quân mờ mờ ấy có người mặc áo tơi nón lá. Trong sương mù, đoàn người phía trước bỗng dừng lại tản ra hai phía. Có lẽ họ cũng nghi ngờ điều gì đó! Đúng là địch rồi! Tiểu đội 1 được lệnh đồng loạt nổ súng. Khẩu trung liên của tiểu đội trưởng Hoàng Đình Mạc nằm giữa tiểu đội 2 đang dàn hàng ngang, lia hết một băng dài vào đội hình địch. Trong sương mù hai làn đạn đỏ lừ cài vào nhau. Ngay làn đạn đầu, tôi trông thấy nhiều tên địch gục xuống. Nhưng rồi đại liên, trọng liên của chúng dốc đạn xối xả về phía chúng tôi. Hoàng Đình Mạc vì ít đạn nên không siết cò khẩu trung liên liên tiếp. Nhằm vào đội hình địch, anh bắn từng loạt ngắn. Sau nhiều loạt đại liên, địch dùng súng cối cỡ 60, cỡ 81 rót xuống trận địa chúng tôi. Một quả đạn cối 81 nổ trúng chỗ đồng chí chính trị viên Đức và trung đội phó Nam. Lúc này chỉ huy trung đội chỉ còn có tôi. Tôi điều cứu thương dìu hai đồng chí Ninh và Thuận bị đạn ở đùi và bụng về phía sau và nhẩm tính, trung đội đã có tới 8 đồng chí hy sinh. Dù sao không thể rời trận địa. Từ các công sự mọi người vẫn bình tĩnh đánh trả các đợt “A la xô” của địch. Đạn cối dội xuống mỗi lúc mỗi nhiều. Nhưng địch không dám xông lên. Chúng chững lại, không phải để rút lui. Địch mạnh hơn chúng tôi về hoả lực, nhưng lại rơi vào một địa hình trống trải, vì vậy chúng phải gọi quân tiếp viện từ phía sau tới. Được tăng viện, địch lại hét “A la xô”. Tiếng hét của địch không làm chúng tôi sợ. Trước mắt chúng tôi chúng chưa dám đứng lên xông tới. Chúng vừa bò, vừa bắn nhưng đạn cối của chúng đã gây cho chúng tôi nhiều thiệt hại.

Tiểu đội trưởng Hoàng Đình Mạc hy sinh nhưng khẩu Hốt-kít không bị bỏ rơi. Một đội viên, tôi không nhớ tên, đã thay tiểu đội trưởng cản địch bằng những loạt đạn trung liên chính xác. Dưới những loạt đạn cối, trung đội không còn đủ sức kháng cự hiệu quả. Quanh tôi nhiều anh em đã bị thương. Người bị nặng nằm im không rên rỉ tránh để các đồng chí chung quanh nao lòng. Người bị nhẹ tự băng bó và bò về phía sau. Đoán được chúng tôi bị thiệt hại nhiều, địch đứng dậy, hò hét xông tới. Tiểu đội 1 đã đánh giáp lá cà với địch bằng lưỡi lê, dao găm, lựu đạn, bằng cả những quả đấm, những cú đá. Hai tiếng hô: “A la xô” và “xung phong” của địch, của ta quần thảo nhau. Đợt xung phong địch tưởng chắc ăn này đã bị cản lại. Loang loáng trước mắt tôi nhiều tên loạng choạng gục xuống, bọn thoát chết lợi dụng các bờ ruộng nằm dán người trên mặt đất, bắn trả lại. Gần một tiểu đội của chúng tôi bị hy sinh. Trung đội không còn quá một nửa quân số. Cùng với các đợt phản xung phong, đạn dược cạn dần. Tôi không nhận được mệnh lệnh rút lui. Tôi biết trận địa này vỡ, địch dễ dàng đánh vào sườn phố Bạch Mai. Tôi nói với anh em những suy nghĩ của mình. Không một ai bàn kế rút. Hai cán bộ tiểu đội trưởng còn lại khẽ nói với tôi bằng một giọng trầm tĩnh: “Anh em không mất tinh thần đâu!”. Những lời ấy đối với tôi là cả một sức mạnh dù đạn súng cối của địch đang xé lụa trên đầu. Lúc này khói đạn đã thay sương mù. Trận địa bị bao phủ bởi một làn mây xám đục. Bọn địch lại được lệnh tấn công. Lần này chúng không tấn công chính diện, mà từ hai bên sườn đánh bọc lại. Để bảo toàn lực lượng, chúng tôi vừa bắn trả vừa yểm hộ cho nhau rút về phía sau theo đường mương con. Không bao vây được chúng tôi, địch lại sử dụng ngón đòn hoả lực của các loại súng cối. Dựa vào các căn nhà trong ngõ Mai Hương chúng tôi đánh trả không cho địch cắt ngang phố Bạch Mai. Gần một ngày quần nhau với địch, chúng tôi đã buộc được chúng dừng lại.

Đêm đến chúng tôi nhận được lệnh bảo vệ số đồng bào bị kẹt tại Việt Nam học xá theo đường sông Kim Ngưu rút về Thanh Trì. Trung đội Hoàng Hoa Thám đã đánh một trận quyết tử đúng với cái nghĩa đầy đủ của từ này. 19 đồng chí của chúng tôi đã hy sinh. Nhưng khu phố không bị cắt rời và những đồng bào bị mắc lại ở Việt Nam Học xá được bảo vệ an toàn.

Nửa thế kỷ qua rồi, chúng tôi chưa quên 3 anh em trong một gia đình: Bút - Nghiên - Mạc, và Nam - Giao - Tính 3 anh em trong một gia đình khác, cùng hy sinh trong trận quyết tử này. Cho đến hôm nay khi nhớ lại trận đánh năm xưa, tất cả chúng tôi những anh em còn lại trong Trung đội Hoàng Hoa Thám, tuy đã bỏ nhiều công sức nhưng vẫn không tìm được tung tích gia đình 3 anh em Hoàng Đình Mạc, càng không biết các anh có được chôn cất hay không? Nhưng trong trí nhớ của chúng tôi và hy vọng trong trí nhớ của những người dân khu phố Bạch Mai không phai mờ tinh thần quyết tử của các anh (*).

(Hồi ức của Đại tá Thành Xuân Chung, nguyên Trung đội trưởng Trung đội Hoàng Hoa Thám).

(*) Hồi ức này ở thời điểm 1996. Theo ông Thành Xuân Chung sau này đến năm 1999 đã tìm được và làm thủ tục trao tặng bằng Tổ quốc ghi công cho thân nhân các liệt sĩ Hoàng Đình Mạc, Hoàng Đình Nghiên, Hoàng Đình Bút.

Trường hợp còn lại của trung đội là 4 anh em ruột Nguyễn Như Trương, Nguyễn Như Nam, Nguyễn Như Giao, Nguyễn Như Tính tham gia chiến đấu thì 3 người hy sinh. Bản thân ông Nguyễn Như Trương sau này cũng có 2 con trai hy sinh trong Kháng chiến chống Mỹ.

Báo tường "Xung phong" của Ủy ban Kháng chiến Liên khu 2 Hà Nội tại Ngã tư Trung Hiền (ảnh 1) và báo tường "Quân Đống Đa...
21/06/2026

Báo tường "Xung phong" của Ủy ban Kháng chiến Liên khu 2 Hà Nội tại Ngã tư Trung Hiền (ảnh 1) và báo tường "Quân Đống Đa" của Ủy ban Kháng chiến Liên khu 3 Hà Nội tại Ngã tư Sở (ảnh 2). Ảnh của PV Nguyễn Bá Khoản (báo Cứu quốc).

Đây là các tờ báo do ban tuyên truyền của các liên khu xuất bản để phục vụ công tác thông tin, vận động, tuyên truyền cho nhân dân và các lực lượng vũ trang trong giai đoạn chiến đấu 60 ngày đêm. Trong Liên khu 1 cũng có tờ báo tương tự mang tên "Chiến thắng".

Sách "Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội" do các CCB Trung đoàn Thủ đô biên soạn năm 1981 có đ...
17/06/2026

Sách "Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội" do các CCB Trung đoàn Thủ đô biên soạn năm 1981 có đoạn trích về 1 trận phục kích cuối tháng 12-1946 theo lời kể của tự vệ Khu Đông Thành:

"Mới đây, một xe díp lao đến phố Đường Thành. Đồng chí Hiệp Hòa nổ phát thứ nhất bắn thủng lốp bánh trước, xe đâm vào vỉa hè, khựng lại. Trên xe có ba tên địch, thì hai đứa nhanh chân lẩn thoát, còn tên lái xe vướng tay lái lúng túng một tí, liền bị trúng đạn. Hiệp Hòa bắn viên thứ hai, nó ôm bụng đi lào đảo được mấy bước ngã vật xuống. Chúng tôi lấy xăng krếp của hiệu giầy Lâm Thịnh ra đốt xe, thu vũ khí, thu một cặp da có nhiều tài liệu, giấy tờ và một tập ảnh gia đinh Mê-la Sa-vi-ê".

Trong nhật ký tác chiến của Đại đội ô tô trực thuộc tổng hành dinh số 71 (71e compagnie auto de quartier général - 71e CAQG) được lưu tại lưu trữ BQP Pháp ở Vincennes, Paris, tôi đã tìm được thông tin về trận phục kích này với mô tả gần như trùng khớp:

"29 (tháng 12-1946).
Thượng sĩ nhất MELA, quản lý hậu cần của đại đội rơi vào một ổ phục kích ở góc đường Nguyễn Trãi (*) và Đường Thành (Quảng trường Olympia). Chiếc xe Jeep 10389 bị bỏ lại dưới làn đạn của đối phương, tài xế MORA và Hạ sĩ POIRIER bị thương, Thượng sĩ nhất MELA sau khi chạy vào một ngôi nhà đã mất tích."

(*) Phố Nguyễn Trãi ở đây là theo tên từ thời Pháp thuộc trước 1945, là Phố Nguyễn Văn Tố ngày nay.

Thượng sĩ nhất Mela được nhật ký của đơn vị ngày 1-1-1947 xác nhận là mất tích hoàn toàn và đến tháng 5-1947 mới tìm thấy xác trong 1 con ngõ gần đó.

Khu Long BiênNăm 1946, Khu Long Biên là 1 trong 7 khu hành chính thuộc Liên khu 1 Hà Nội, là vùng bãi sông bên ngoài đê ...
16/06/2026

Khu Long Biên

Năm 1946, Khu Long Biên là 1 trong 7 khu hành chính thuộc Liên khu 1 Hà Nội, là vùng bãi sông bên ngoài đê từ Cầu Long Biên đến dốc Vạn Kiếp với khu dân cư tập trung chủ yếu là bãi Phúc Tân (Cầu Đất). Địa giới chiếm toàn bộ mặt đông của Liên khu 1, tương đương với Phường Chương Dương và một phần Phường Phúc Tân của Quận Hoàn Kiếm (cũ) và nay thuộc Phường Hồng Hà.

Lực lượng vũ trang Khu Long Biên trước ngày Toàn quốc kháng chiến có 1 đại đội tự vệ do ông Nguyễn Văn Nhung làm đại đội trưởng và Lê Văn Nhì làm đại đội phó, trang bị chủ yếu bằng vũ khí thô sơ và một số lựu đạn Phan Đình Phùng. Trong đêm 19-12-1946, tự vệ Khu Long Biên tham gia tấn công Ga Đầu Cầu Long Biên cùng các cơ sở kinh tế của Pháp kiều nằm dọc đê như Công ty vận tải đường thủy Sauvage (nay là Trường tiểu học Nguyễn Du 11-13 Hàng Tre), Nhà máy nước đá (198 Trần Quang Khải), Cửa hàng thực phẩm Michaud (210 Trần Quang Khải)...

Để bảo vệ Cầu Long Biên, quân Pháp đã trả đòn bằng hỏa lực phi pháo xuống các khu vực bãi sông. Theo các tư liệu Việt Nam, sáng 20-12-1946 không quân Pháp dùng máy bay vận tải Dakota ném "thùng xăng" xuống bãi sông Long Biên và máy bay chiến đấu bắn đạn cháy (ở đây tình huống thực tế hơn có lẽ là máy bay Dakota đã thả bom cháy - các tư liệu của không quân Pháp xác nhận 1 trong những cấu hình oanh tạc của Dakota là mang 50 quả bom cháy loại 1kg). Khu Long Biên với chủ yếu là nhà tranh vách đất bị đốt cháy trụi.

Trong "Sống mãi với Thủ đô" có 1 đoạn đối thoại rất gay gắt giữa nhân vật Quốc Vinh với người chỉ huy Long Biên:

"Mặt hốc hác, đôi mắt lồ lộ nhìn người đồng chí phụ trách khu Long Biên, Quốc Vinh nói, giọng anh khản đặc, vì cả một đêm phải báo cáo tình hình cho bên ngoài, gọi dây nói, hỏi tình hình chiến đấu các nơi, trả lời dây nói, truyền lệnh, giải quyết những việc dồn dập tới… Anh không được bình tĩnh lắm:

– Cần nói thẳng, đồng chí như thế là đào ngũ. Một đảng viên như vậy, tôi không nói chuyện nữa. Đồng chí đi đi.

Người đồng chí nói:

– Anh để cho tôi trình bày. Khu Long Biên toàn nhà lá…

– Sao tôi lại không biết điều ấy? Đấy không phải là một lý do. Không có lệnh sao đồng chí bỏ về một mình? Đồng chí bỏ anh em tự vệ, bỏ chết dân ngoài ấy à?

– Nhà hát lớn mà các đồng chí còn rút.

Quốc Vinh đứng dậy và người đồng chí cũng đứng dậy. Anh nói:

– Đồng chí cứ biết cái việc của đồng chí. Đồng chí chỉ huy Nhà hát sẽ bị kỷ luật. Sao chỉ biết một việc ấy mà không biết việc thứ hai, việc người gác ở đấy đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng bằng cái thanh kiếm của sân khấu?

– Đồng chí để cho tôi nói…

– Không đồng chí với anh. Anh phải trở về khu ngay, bảo toàn lực lượng ở đấy, lo cho dân chúng tản cư. Nếu không thì đừng trông thấy tôi nữa".

Tình tiết này ít nhiều phản ánh đúng không khí thực tế lúc đó. Theo hồi ức của Đại tá Hoàng Đức Nghi (Trưởng ban Tuyên truyền Liên khu 1 và Trung đoàn Thủ đô), trong cuộc họp của liên khu ủy ngày 21-12-1946, bí thư Khu Long Biên Hồng Cầm và bí thư Khu Hoàn Kiếm Lê Hồng Sơn là những người bị chỉ trích rất mạnh do không nắm được lực lượng vũ trang, để mất đất... Trên thực tế thời điểm này Khu Long Biên cũng xem như đã bị triệt hạ, nhân dân và tự vệ phải chạy vào trong đê trú ở khu vực phố Mã Mây, Lương Ngọc Quyến, không còn gạo, đạn, phải dựa hoàn toàn vào Khu Đông Kinh Nghĩa Thục. Một bộ phận dùng bè sơ tán sang Gia Lâm hoặc xuống Thanh Trì. Ông Trần Mạnh (Chủ tịch Ủy ban hành chính khu) bị bắn chết khi đang xuôi bè xuống Thanh Trì. Bà Lê Thanh (Lê Song Toàn - sau là phu nhân Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn) lúc đó là ủy viên Ủy ban kháng chiến khu phải bơi sang bãi giữa để tìm phương án sơ tán dân nhưng cũng không mở được đường). Sau khi đánh giá tình hình, Liên khu 1 quyết định củng cố lại và sáp nhập tự vệ Long Biên vào Khu Đông Kinh Nghĩa Thục.

Mặc dù các tư liệu Việt Nam không đề cập thêm, nhật ký tác chiến của Trung đoàn kỵ binh truy tiễu số 1 Pháp cho biết sáng 29-12-1946, quân Pháp đã mở trận càn quét vùng bãi Phúc Tân, phía Việt Nam bị thiệt hại nặng với khoảng 40 người hy sinh.

Sau khi Trung đoàn Thủ đô thành lập, lực lượng tự vệ cũ của Khu Long Biên được tổ chức lại kết hợp với Vệ quốc đoàn thành quân số thuộc Đại đội 16, Tiểu đoàn 103 Đông Kinh Nghĩa Thục và tiếp tục chiến đấu cho đến ngày trung đoàn rút khỏi Liên khu 1 Hà Nội.

Ảnh:
1. Bản đồ bãi Phúc Tân - Long Biên qua các thời kỳ.
2. Bãi sông Hồng ven cầu Long Biên năm 1940.
3. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các ông Nguyễn Văn Tố (Trưởng ban thường trực quốc hội) và Trần Duy Hưng (Chủ tịch Hà Nội) đến tham dự mít tinh tại sân vận động Phúc Tân ngày 5-1-1946 chuẩn bị cho tổng tuyển cử.

Khu Đồng NhânNăm 1946, Đồng Nhân là 1 trong 7 khu hành chính thuộc Liên khu 2 Hà Nội, gồm làng Đồng Nhân và vùng bãi nằm...
13/06/2026

Khu Đồng Nhân

Năm 1946, Đồng Nhân là 1 trong 7 khu hành chính thuộc Liên khu 2 Hà Nội, gồm làng Đồng Nhân và vùng bãi nằm bên ngoài đê của Lãng Yên, Lạc Trung, lần lượt tiếp giáp với Khu Long Biên của Liên khu 1 ở phía bắc, Khu Lò Đúc của Liên khu 2 bên trong đê và Khu Mê Linh ngoại thành ở phía nam. Địa giới Khu Đồng Nhân năm 1946 về sau thuộc Phường Bạch Đằng, Quận Hai Bà Trưng (cũ) và ngày nay thì thuộc Phường Hồng Hà.

Lực lượng vũ trang toàn Khu Đồng Nhân gồm dân quân các làng, tự vệ công nhân khu Lò Lợn, cảng Phà Đen... tương đương khoảng 1 đại đội trang bị vũ khí thô sơ. Lực lượng chiến đấu chính quy của Pháp đóng trên địa bàn có 3 tàu đổ bộ nhẹ đóng tại cảng Phà Đen, trên bờ có 1 trung đội hải quân lục chiến 50 người (thuộc Chi đoàn 3, Trung đoàn thiết giáp hải quân lục chiến) đóng tại xưởng sửa chữa của Công ty vận tải ô tô Đông Dương (Société des Transports Automobiles Indochinois - STAI) trong cảng (các tư liệu Việt Nam hay gọi chệch là đồn Sta-ke từ chữ STAI Quai, nghĩa là bến STAI). Ngoài ra liền kề là bệnh viện Đồn Thủy được bảo vệ bởi 1 trung đội bộ binh 20 người và 1 trung đội hải quân lục chiến 30 người, chưa kể gần 300 thương bệnh binh và lính quân y cũng đã được trang bị vũ khí từ chiều 19-12-1946.

Trong đêm 19-12-1946, tự vệ Đồng Nhân tham gia cùng lực lượng Tiểu đoàn 77 và 212 Vệ quốc đoàn cùng dân quân tự vệ các khu bạn đánh vào Đồn Thủy và bao vây đồn STAI cảng Phà Đen nhưng không hạ được. Ngay trong sáng 20-12-1946, 1 phân đội thiết giáp Pháp đã tiến xuống giải vây, bắt tay được với quân đồn trú ở Phà Đen. Chiều 21-12-1946, phối hợp với cuộc hành quân giải tỏa mặt nam Đồn Thủy, quân Pháp dùng 1 trung đội bộ binh (thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn bộ binh Thuộc địa số 6) và 1 trung đội bộ binh cơ giới đi halftrack (thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn cơ giới hóa, Liên đoàn thiết giáp Bắc Kỳ) tiến hành càn quét khu vực Đồng Nhân, Lãng Yên... Theo hồi ức của CCB Pháp Charles Roffo (lúc đó là trung sĩ tiểu đội trưởng thuộc trung đội hỏa lực của Đại đội 2 Tiểu đoàn 1/6), đơn vị của ông này đã đánh 1 trận khá ác liệt để hỗ trợ cho số lính thủy thủ của tàu đổ bộ đang bị dân quân Việt Nam bao vây tấn công trên bãi sông. Mặc dù được giải cứu, theo Roffo đơn vị hải quân Pháp bị thiệt hại nặng với 12/29 người tử trận, phía Việt Nam cũng hy sinh khá nhiều do chênh lệch về vũ khí.

Sau đợt chiến đấu này Khu Đồng Nhân bị triệt hạ. Các lực lượng vũ trang Việt Nam tập trung về đóng giữ tuyến phòng ngự nằm dọc theo đường bờ sông từ Lương Yên về Vĩnh Tuy cho đến giữa tháng 1-1947.

Ảnh:
1. Bản đồ khu Đồng Nhân qua các thời kỳ.
2-6. Mặt trận bờ sông Lương Yên trong quá trình chiến đấu cuối tháng 12-1946 đầu tháng 1-1947. Ảnh của PV Nguyễn Bá Khoản.

Ảnh của PV Nguyễn Bá Khoản: Dân quân ngoại thành làm nhiệm vụ vận chuyển thuốc men, vật tư y tế của bệnh viện Bạch Mai (...
09/06/2026

Ảnh của PV Nguyễn Bá Khoản: Dân quân ngoại thành làm nhiệm vụ vận chuyển thuốc men, vật tư y tế của bệnh viện Bạch Mai (nhà thương Vọng) về quân y viện ở Văn Điển cuối tháng 12-1946. Người đeo túi đứng giữa ở hàng đầu là bà Cao Bích Thu (Hội Hồng thập tự Việt Nam), vợ của PV Nguyễn Bá Khoản.

Address

Hanoi
Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hà Nội 1946 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Museum

Send a message to Hà Nội 1946:

Shortcuts

Share