Hà Nội 1946

Hà Nội 1946 Hà Nội 1946 - Quyết tử để Tổ quốc Quyết sinh
(1)

80 NĂM TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN 1946-202619-4-1946: Hội nghị trù bị Đà LạtHội nghị trù bị Đà Lạt là cuộc đàm phán cấp quốc ...
19/04/2026

80 NĂM TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN 1946-2026

19-4-1946: Hội nghị trù bị Đà Lạt

Hội nghị trù bị Đà Lạt là cuộc đàm phán cấp quốc gia chính thức đầu tiên giữa VNDCCH và Pháp về vấn đề độc lập, thống nhất và chủ quyền của Việt Nam sau khi Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 được ký kết.

Phái đoàn VNDCCH do Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam làm trưởng đoàn và Chủ tịch Quân ủy hội (Tổng tư lệnh) Võ Nguyên Giáp làm phó đoàn với 12 thành viên chủ chốt cùng một số cố vấn và trợ lý chuyên môn. Trong đó ông Võ Nguyên Giáp làm trưởng ban quân sự, giáo sư Hoàng Xuân Hãn làm trưởng ban chính trị, tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường làm trưởng ban văn hóa và Thứ trưởng Tài chính Trịnh Văn Bính làm trưởng ban kinh tế và tài chính, luật sư Vũ Văn Hiền làm tổng thư ký phái đoàn.

Phái đoàn Pháp do Đô đốc d'Argenlieu - Tổng cao ủy đứng đầu trên danh nghĩa nhưng sau đó không tham gia họp. Phái đoàn Pháp trên thực tế sau đó do Max André (Thượng nghị sĩ) làm trưởng đoàn điều hành. Để giữ vị thế, phái đoàn VNDCCH cũng thống nhất trưởng đoàn Nguyễn Tường Tam không tham gia họp và để phó đoàn Võ Nguyên Giáp thay thế.

Hội nghị Đà Lạt chính thức khởi động sáng 19-4-1946 và gián đoạn nhiều lần. Trong quá trình đàm phán diễn ra, phía Pháp chủ tâm gây ra nhiều khó khăn như tìm cách bắt giữ hoặc trục xuất nhiều thành viên của đoàn VNDCCH, ngăn cản đoàn VNDCCH sử dụng máy thông tin... Ngoại trừ vài vấn đề về văn hóa, giáo dục đạt được sự đồng thuận, các thảo luận quan trọng nhất liên quan đến vấn đề độc lập, thống nhất, chủ quyền của Việt Nam cũng như vấn đề đình chiến ở Nam Bộ đều bế tắc khi quan điểm của 2 bên quá khác biệt. Ngày 11-5-1946, phiên họp cuối cùng của hội nghị kết thúc không thu được kết quả.

Ảnh: Các thành viên 2 phái đoàn Việt-Pháp tham dự Hội nghị Đà Lạt: từ trái sang: Bousquet, Messmer, Võ Nguyên Giáp, Salan, Nguyễn Tường Tam, Max André, Pignon.

Trận chiến đấu ngày 15 tháng giêng ở nhà thương Bạch Mai.Sang đầu tháng giêng năm 1947. Nhiều đơn vị tự vệ khu phố về đó...
17/04/2026

Trận chiến đấu ngày 15 tháng giêng ở nhà thương Bạch Mai.

Sang đầu tháng giêng năm 1947. Nhiều đơn vị tự vệ khu phố về đóng ở Việt Nam học xá và ở phía Bạch Mai. Chúng tôi được trên phổ biến cần củng cố lại tổ chức. Chỉ giữ lại những người có khả năng chiến đấu bổ sung cho Vệ quốc đoàn, số còn lại đưa về hậu phương công tác.

Trung đội tự vệ Cửa Nam được giữ nguyên quân số đưa sang sáp nhập vào tiểu đoàn 64 đóng ở nhà thương Bạch Mai. Tôi ngày 9/1/1947 khi đưa trung đội tới nơi tôi đã thấy một số đơn vị khác có mặt ở đó. Sau này mới biết đó là trung đội tự vệ do anh Hoàng Giáp phụ trách.

Trung đội của chúng tôi được giao nhiệm vụ canh giữ, phòng thủ phía đông bắc nhà thương Bạch Mai. Hàng ngày lúc địch chưa đánh, bộ đội làm công sự, ban đêm chủ động đánh địch ở Kim Liên. Ở điểm này ban ngày địch chiếm, ban đêm địch rút. Các trung đội phải luân phiên nhau đi đánh mấy lần.

Tới ngày 15/1/1947, một trận đánh lớn đã xảy ra ở nhà thương Bạch Mai. Lần này địch huy động cả phi cơ, xe tăng, trọng pháo, bộ binh tấn công nhiều mũi. Hầu hết các điểm đóng quân ở phía nam Thủ đô chạm trán với địch. Riêng đơn vị tôi đã giáp chiến ở phía đông bắc nhà thương Bạch Mai với bộ binh địch từ lúc trận đánh bắt đầu.

Tờ mờ sáng lúc còn sương đêm, Hồng từ điểm tiền tiêu chạy về báo cáo gấp:

- Phía trước có nhiều địch tới, đề nghị ra lệnh báo động chiến đấu.

- Đợi chúng đến gần, tập trung hỏa lực bắn từng loạt chặn đứng chúng lại. "Rõ!" Nhận lệnh xong Hồng chạy biến vào trong sương sớm. Trung đội ra triển khai vị trí bố phòng, liên lạc đi báo cáo gấp với đại đội.

Tiếng súng ngoài tiền tiêu nổ, hiệu lệnh báo động toàn tiểu đoàn đã phát, tiếng tiểu liên của địch nổ ran, hàng trăm tia lửa đạn xèo qua trước mặt. Lá rụng rào rào, cành cây gẫy răng rắc. Cứ như thế chừng năm phút thì ngưng tiếng súng, lắng đi một chút, lại nghe thấy tiếng súng trường nổ, tiếp theo đó lại hàng loạt tiếng tiểu liên như lần trước rồi lại ngừng. Lần thứ ba ngoài tiếng súng trường, kèm theo tiếng lựu đạn nổ đinh tai. Quan sát tia đạn lửa có thể đoán ra địch nằm bắn, nhưng lúc tia lửa đạn thấp xuống đúng là lúc chúng tiến lên. Tiếng súng trường và lựu đạn lại nổ, hẳn là những đơn vị tiền tiêu đang chặn đánh địch. Mọi người say mê trong lửa đạn chỉ nhận biết được có thế, và đã có thêm nhiều tiếng súng trường ở phía sau bắn về phía có địch.

Đến lúc tiếng tiểu liên đã ngớt và xa dần ngoài cánh đồng, lúc đó tiếng súng trung liên và đại liên địch ở phía Kim Liên xả tới từng loạt từng tràng. Ta ẩn nấp tránh đạn địch để khỏi bị thương vong vô ích, thời gian đã khá lâu. Xa xa có tiếng máy bay kèm theo có tiếng súng đạn lớn. Máy bay tới đâu súng lớn bắn tới đó.

Khi máy bay lượn trên đầu chúng tôi (kể cả đơn vị bạn) là lúc nhà thương Bạch Mai phải hứng chịu tiếng nổ đanh tai xé óc của đạn cầu vồng. Máy bay "bà già" rất lợi hại, chúng chỉ điểm cho đạn cầu vồng bắn rất chính xác. Trận địa của ta có phần rối loạn, anh em buộc phải chạy đi chạy lại tìm chỗ ẩn nấp khi làn đạn cầu vồng của địch di chuyển.

Đã có nhiều người bị thương, tình hình rất cấp bách, đã thế lại thêm tiếng xe tăng, xe cơ giới gầm rú. Với trình độ ấu trĩ, kinh nghiệm chiến trường còn chưa có, tôi không sao đoán nổi tình hình lúc đó. Thực ra, cũng chẳng còn tâm trí nào mà ngồi phán đoán. Việc cấp cứu đưa thương binh về phía sau chiếm hết thời gian và tâm trí. Có những việc quá với khả năng, lúng túng không biết xử lý ra sao? Có những đồng chí hy sinh trong tư thế chiến đấu mặt hướng về phía trước, nhưng lại bị mảnh đạn cầu vồng sát thương từ phía sau. Cảnh tượng thật đau lòng, hạ lệnh rút lui không được, gom xác trong lúc còn đang chiến đấu cũng không xong. Loay hoay không biết làm như thế nào, đành nuốt nước mắt bỏ qua để cứu người còn sống.

Tiếng súng đã nổ ba bề bốn bên. Trước mắt, sau lưng, bên phải, bên trái chỗ nào cũng là trận địa. Đánh không được, rút không được, tôi tự cảm thấy mình vừa bất tài vừa lúng túng vừa hoang mang thụ động. Một tiếng nổ đanh ròn, tôi thoáng nghĩ: thôi thế là hết!

Lúc tỉnh lại thấy có người ngồi bên cạnh, đồng chí cứu thương hôm nào cho tôi viên kẹo ngọt, mắt còn ngấn lệ.

- Hãy còn sống! Thiện thét lên.

- Tôi có sao đâu mà cuống lên thế.

- Mồm đầy máu, thôi về trạm xá, nhân danh cứu thương, tôi ra lệnh.

Tôi định chống lại lệnh, nhưng chân tay rã rời. Với thân hình gầy còm lại kiệt sức lâu ngày, nay bị ép thổ huyết tôi không đủ sức tự đứng dậy. Một chiến sĩ và một cứu thương dìu tôi về trạm y tế tiểu đoàn. Ở đây, tôi được cụ Cư, người y tá già tiêm cho một mũi dầu long não.

Tôi đang định xin phép đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ, bỗng thấy một cáng thương đi vào, theo sau là Bích Oanh. Chị là một vệ quốc quân ở Hải Phòng bị kẹt lại Hà Nội tạm thời xin gia nhập đội tự vệ cửa Nam. Với tác phong quân nhân, chị chào xong mới báo cáo:

- Tổ tiền tiêu đã bị đạn địch bắn sập hầm. Ba đồng chí hy sinh, hai bị thương nặng. Anh Hồng khi quay về xin chỉ thị bị thương nặng hiện nay chưa biết sống chết ra sao?

Tôi ứa nước mắt thầm nghĩ: tổ tiền tiêu của Hồng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nếu cuộc chiẽn ác liệt như đã xảy ra chưa mở màn mà bộ binh của địch đã lọt được vào phía sau lưng của tiểu đoàn thì tình hình sẽ còn bi đát hơn nhiều.

Bích Oanh đưa cho tôi khẩu súng ngắn của Hồng. Tôi không nhận.

- Oanh hãy tạm giữ lại, khi nào Hồng tỉnh lại Oanh trả lại Hồng.

Vừa dứt, xe tăng của địch đã tiến đến bắn phá dữ dội. Tiếng kính vỡ, tiếng tường lở rộn người, bụi bay dày đặc. Kẻ chạy đi, người chạy lại chật cả hành lang của bệnh viện. Trạm y tế được lệnh rút về Hà Đông.

Người ta cáng Hồng đi, tôi giục Oanh đi theo, ở lại cũng vô ích, đã đến lúc phải rút lui để bảo toàn lực lượng.

Những năm chiến đấu tiếp theo tôi còn gặp lại: Châm, Đài, Oanh, Thiện, Bình, Thìn, Thuật riêng Hồng tôi không gặp lại lần nào nhưng hình ảnh Hồng cứ lặp đi, lặp lại trong trí nhớ của tôi.

Phiên hiệu của đội tự vệ Cửa Nam không còn nữa nhưng tinh thần chiến đấu của nó sống mãi với sự nghiệp chiến đấu sáu mươi ngày đêm bảo vệ Thủ đô.
-----------------------
Hồi ức ông Ninh Hữu Cẩn, nguyên đội viên Tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu (Tự vệ xung phong) được biệt phái về chỉ huy Trung đội Tự vệ Cửa Nam, Khu Quán Sứ, sau đó chuyển thành bộ đội thuộc Đại đội 4, Tiểu đoàn 64 Vệ quốc đoàn.
-----------------------
Ảnh: máy bay Pháp đánh phá mặt trận Bạch Mai do PV Nguyễn Bá Khoản chụp. Có vẻ là 1 chiếc C-47 Dakota thuộc Phi đội vận tải 1/34 Bearn.

Pháo binh Pháp trong trận Hà Nội 1946Pháo binh chủ lực của Pháp trong trận Hà Nội 1946 là Tiểu đoàn 1 (thiếu) thuộc Trun...
14/04/2026

Pháo binh Pháp trong trận Hà Nội 1946

Pháo binh chủ lực của Pháp trong trận Hà Nội 1946 là Tiểu đoàn 1 (thiếu) thuộc Trung đoàn pháo binh Thuộc địa vùng Ma-rốc (RACM - régiment d'artillerie coloniale du Maroc). Đây vốn là trung đoàn pháo binh cơ hữu của Sư đoàn bộ binh Thuộc địa số 9 (9e DIC - division d'infanterie coloniale) trong WW2, biên chế theo mô hình Mỹ với 3 tiểu đoàn pháo 105mm và 1 tiểu đoàn pháo 155mm. Sau khi sang Đông Dương, quân đội Pháp không duy trì tổ chức quy mô sư đoàn, các đơn vị của sư đoàn được tách ra đồn trù nhiều nơi. RACM cũng chia các tiểu đoàn ra đóng ở Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn và Sài Gòn.

Tiểu đoàn 1 (thiếu)/RACM có 2 đại đội hỏa lực đồn trú ở Hà Nội (đại đội còn lại phối thuộc cho Lạng Sơn). Mỗi đại đội trang bị 4 khẩu lựu pháo xe kéo 105mm M2 của Mỹ. Đại đội 1 đóng ở Gia Lâm, Đại đội 3 cùng tiểu đoàn bộ cùng bộ phận hậu cần đóng tại Trường trung học Albert Sarraut (nay là Văn phòng Trung ương Đảng số 1 Hùng Vương).

Đầu tháng 12-1946, Tiểu đoàn 1/RACM được lệnh tổ chức thêm 1 trung đội pháo cơ động trực thuộc. Trung đội này có 2 khẩu dã pháo xe kéo 75mm Mle 1897 của Pháp. Tuy nhiên trung đội này cũng chỉ tham chiến ở Hà Nội trong mấy ngày đầu (trong đó có trận tấn công Trại Vệ quốc đoàn Trung ương 40 Hàng Bài ngày 22-12-1946). Kể từ 24-12-1946, trung đội này được điều sang Gia Lâm, phối thuộc cho cánh quân giải tỏa cho thị xã Bắc Ninh, Phủ Lạng Thương rồi kể từ thời điểm này tập trung tác chiến trên hướng QL5.

Pháo binh trong các đơn vị bộ binh Pháp như sau:

Trung đoàn bộ binh Thuộc địa số 6 (6e RIC - regiment d'infanterie coloniale) vốn thuộc Sư đoàn 9 DIC - cũng được tổ chức theo mô hình Mỹ từ WW2, được biên chế 1 đại đội bộ binh pháo (CCI - compagnie canons d'infanterie) và 1 đại đội pháo chống tăng (CAC - compagnie antichar).

Đại đội bộ binh pháo trang bị 6 khẩu lựu pháo nhẹ 105mm M3 của Mỹ (Ảnh 1). Đến tháng 1-1947 thì đại đội này được phối thuộc luôn dưới quyền chỉ huy của Tiểu đoàn 1/RACM. Đại đội này thường được triển khai theo dạng cơ động để yểm trợ các cuộc hành quân giải tỏa.

Đại đội chống tăng trang bị 9 khẩu pháo chống tăng 57mm M1 của Mỹ (dựa trên QF 6-pounder của Anh) (Ảnh 2). Tuy nhiên ở Hà Nội thì vai trò hỏa lực của đại đội này lại không được phát huy nhiều lắm. Thay vào đó thì bộ chỉ huy Pháp lại thường xuyên huy động nó tham chiến dưới vai trò bộ binh để bù đắp cho thiếu hụt quân số.

Các tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 6 RIC ở Hà Nội (gồm Tiểu đoàn 1 và 3), mỗi tiểu đoàn biên chế 1 đại đội hỏa lực bao gồm 1 trung đội chống tăng 57mm (3 khẩu M1) và 1 trung đội cối 81mm (6 khẩu M1). Mỗi tiểu đoàn có 3 đại đội bộ binh, trong đó mỗi đại đội có 1 tiểu đội cối 60mm (3 khẩu M2).

Tiểu đoàn bộ binh cơ giới trực thuộc Liên đoàn thiết giáp Bắc Kỳ (BP/GBT - bataillon porté du groupement blindé du Tonkin) được trang bị 3 khẩu dã pháo 75mm Mle 1897 (Ảnh 3), 3 khẩu cối 81mm M1 và (ít nhất) 3 khẩu cối 60mm M2 - tất cả đều được cơ giới hóa bằng xe halftrack.

Trong lực lượng thiết giáp và bộ binh cơ giới có tổng cộng 5 xe pháo tự hành 75mm HMC (Howitzer Motor Carriage) (Ảnh 4), bao gồm 3 xe thuộc Tiểu đoàn BP/GBT và 2 xe thuộc Chi đoàn 2 (thiếu), Trung đoàn kỵ binh truy tiễu số 1 (1er RCC - régiment de chasseurs à cheval).

Bên cạnh đó thì dựa trên ảnh chụp, quân đội Pháp còn sử dụng ở Hà Nội ít nhất 2 khẩu pháo chống tăng 25mm Hotchkiss Mle 1934 (Ảnh 5), có lẽ tận dụng từ trang bị cũ trước 1945.

Tài liệu phía Việt Nam ước tính quân Pháp có 42 khẩu pháo lớn nhỏ từ 37mm đến 105mm, cơ bản cũng không chênh quá nhiều so với số liệu thực tế của Pháp (khi chưa tính các loại súng cối).

Đến giai đoạn cuối, quân Pháp có điều thêm 1 đại đội với 2 khẩu lựu pháo xe kéo 155mm M1 của Mỹ thuộc Tiểu đoàn 4/RACM đóng ở Hải Phòng lên tăng cường vào giữa tháng 2-1947. Đại đội này tham chiến trong những ngày cuối, trong đó quan trọng nhất là trận đánh tổng lực vào mặt trận Đồng Xuân ngày 14-2-1947.

Ông Nguyễn Văn Vy, thợ sửa xe đạp viết khẩu hiệu địch vận bằng tiếng Pháp trên tường nhà trên phố Bạch Mai ngày 25-12-19...
11/04/2026

Ông Nguyễn Văn Vy, thợ sửa xe đạp viết khẩu hiệu địch vận bằng tiếng Pháp trên tường nhà trên phố Bạch Mai ngày 25-12-1946: "Beaucoup de vos camarades ont protesté contre la guerre. Qu'attendez..." [Nhiều đồng đội của anh đã phản đối chiến tranh. Anh còn chờ gì nữa?]. Ảnh: Nguyễn Bá Khoản.

Ông Nguyễn Văn Vy sau đó trong kháng chiến chống Pháp tham gia công tác trong ngành quân giới. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND ngày 18-6-1969 khi đang giữ cấp bậc đại úy, chức vụ quản đốc của nhà máy V117 (tức Z117) Cục Quân giới.

Máy bay Pháp trong trận Hà Nội 1946 (II)Thiệt hại máy bay của Pháp theo thông tin từ phía Việt Nam như sau:...
08/04/2026

Máy bay Pháp trong trận Hà Nội 1946 (II)

Thiệt hại máy bay của Pháp theo thông tin từ phía Việt Nam như sau:

- 1 trinh sát bị cao xạ 75mm của Pháo đài Láng hạ sáng 22-12-1946.

- 2-3 tiêm kích Spitfire và 3 vận tải bị đốt, đánh hỏng rạng sáng 17-1-1947 khi Đội Quyết tử Ngọc Thụy tập kích sân bay Gia Lâm.

- 2 tiêm kích Spitfire bị pháo 75mm của Trung đội Ba Đê bắn hỏng chiều 25-1-1947 ở sân bay Gia Lâm.

- 1 tiêm kích Spitfire bị súng bộ binh của Trung đội Tạ Doãn Địch (Tiểu đoàn 102 Đông Thành, Trung đoàn Thủ đô) bắn hạ ngày 9-2-1947.

Tổng cộng: 1 trinh sát, 5-6 tiêm kích, 3 vận tải.

Thống kê tình hình trang bị của các đơn vị Không quân Pháp sau ngày chiến sự bắt đầu thì như sau:

- Phi đội 1/2 tiêm kích: tính đến 31-1-1947 không được bổ sung thêm máy bay nào. Có 1 trường hợp tổn thất là chiếc Spitfire số hiệu TE148 bị tai nạn ngày 3-1-1947 và được bàn giao sang đơn vị sửa chữa ngày 22-1-1947, đưa số máy bay trong biên chế còn 16.

- Phi đội 2/15 vận tải: tính đến 31-1-1947 được bổ sung thêm 6 chiếc C-47 Dakota, đưa số máy bay trong biên chế lên 26.

- Phi đội 1/34 vận tải: tính đến 31-1-1947 được bổ sung thêm 3 chiếc Toucan. Có 2 trường hợp tổn thất dẫn tới loại biên là Toucan số hiệu 185 bị tai nạn ở Ba Chẽ, Quảng Ninh (trong khoảng thời gian từ 23-12 đến 25-12-1946) và Toucan số hiệu 242 bị tai nạn ở Gia Lâm (trong khoảng thời gian 19-12 đến 31-12-1946). Số máy bay trong biên chế có 19 chiếc.

Trường hợp chiếc Toucan 242 bị "tai nạn" ở Gia Lâm khá là đáng ngờ vì báo chí phương tây ngày 31-12-1946 khi viết về tình hình chiến sự ở Hà Nội có đưa ra thông tin là 1 chiếc Ju-52 (Toucan) đã bị cao xạ do các xạ thủ Nhật (sic) điều khiển bắn hạ và bốc cháy.

Mặc dù không được thể hiện trong thống kê trang bị, chắc chắn có một số máy bay đã bị hư hỏng trong trận tập kích của Đội Quyết tử Đặc khu Ngọc Thụy vào rạng sáng 17-1-1947. Nhật ký của Thiếu úy Pierre-Alba Thomas cho biết khi đánh vào sân bay, quân Việt Nam đổ xăng vào đốt động cơ, dùng mìn lõm tự tạo và lựu đạn ném vào trong buồng lái của 2 máy bay và ông xác nhận có 1 máy bay hỏng nặng, 4 máy bay hỏng nhẹ (không nói rõ chủng loại). Nhật ký tác chiến của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn bộ binh Thuộc địa số 21 (3/21e RIC) là đơn vị bảo vệ sân bay Gia Lâm thì cho biết là quân Việt Nam không kịp đốt các máy bay Spitfire, nhưng có 7 chiếc bị dính mảnh lựu đạn và cả chính đạn bộ binh của lính Pháp trong quá trình giao tranh với lực lượng tập kích và phải sửa chữa, trong số này có 3 chiếc chỉ hư hại rất nhẹ.

Như vậy có thể đoán tổn thất do Đội Quyết tử Ngọc Thụy gây ra là 1 vận tải Toucan hỏng nặng, 4 Spitfire hỏng nhẹ và 3 Spitfire bị rất nhẹ (nên Thiếu úy Thomas không tính 3 chiếc này) và các hỏng hóc này đều được nhân viên kỹ thuật Pháp khắc phục. Cũng khá trùng hợp là tổng kết giai đoạn 15-1 đến 31-1-1947 của Phi đội 1/34 cho thấy có 4 chiếc Toucan phải thay động cơ - có thể là bao gồm cả do bị đánh phá.

Ngoài ra 2 trường hợp tổn thất máy bay trinh sát của Lục quân thì được xác nhận rõ:

- Khoảng 17h chiều 22-12-1946, chiếc MS-500 thuộc Phi đội 1 trinh sát do Đại úy Loisy và Trung sĩ Vincent lái cất cánh từ đường băng dã chiến trên quảng trường Ba Đình đã bị súng bộ binh của Việt Nam nhắm bắn từ cự ly gần. Phi công điều khiển máy bay ngoặt gấp để tránh đạn đã đâm vào ngọn cây. Máy bay bị cháy và phá hủy hoàn toàn, tổ lái bị thương nhẹ.

- Trưa 29-12-1946, chiếc L-4 Grasshoper của trung đội trinh sát Tiểu đoàn 1/RACM pháo binh chở Đại úy Calvet chỉ huy 1 đơn vị thuộc Liên đội cơ động C đi quan sát chiến trường để chuẩn bị cho trận đánh trên hướng Hàng Bột ngày hôm sau bị lật khi hạ cánh. Cả phi công và Đại úy Calvet đều bị thương nặng.

---------------------------------------------------
Ảnh: Xác máy bay Pháp ở sân bay Bạch Mai do PV Nguyễn Bá Khoản chụp năm 1946. Đây có lẽ là 1 chiếc vận tải chở khách Dewoitine D.338 của Air France bị bỏ lại từ trước 1945.

Máy bay Pháp trong trận Hà Nội 1946 (I)Trước đã có bài điểm qua số lượng cũng như chủng loại trang bị th...
07/04/2026

Máy bay Pháp trong trận Hà Nội 1946 (I)

Trước đã có bài điểm qua số lượng cũng như chủng loại trang bị thiết giáp và hải quân Pháp trong trận Hà Nội 1946, nay nhân có bạn PM hỏi nên nói tiếp về máy bay.

Tính đến trước ngày 19-12-1946, các lực lượng hàng không chủ yếu của Pháp bố trí ở phía bắc vĩ tuyến 19 bao gồm lực lượng thuộc các đơn vị sau:

- Phi đội tiêm kích 1/2 (groupe de chase - GC 1/2) "Cigognes" (Đàn Cò) thuộc Không quân Pháp do Đại úy Jacques Marchelidon chỉ huy gồm 16 máy bay tiêm kích Spitfire Mark IX, 28 phi công và 143 nhân viên kỹ thuật. Trong ngày 19-12-1946 chiếc Spitfire số hiệu TE145 hạ cánh ngoài đường băng và được đưa vào sửa chữa. Ngày 20-12-1946 phi đội này tiếp nhận 2 chiếc Spitfire số hiệu TE148 và TE996, nâng tổng số máy bay sẵn sàng chiến đấu lên 17.

Lực lượng trực chiến ở Gia Lâm trong ngày 19-12-1946 là Biên đội SPA103 gồm 3 phi tuần với tổng cộng 6 chiếc Spitfire. Tuy nhiên phần lớn lực lượng của phi đội sau đó sẽ được rút về tập trung tại Gia Lâm. Theo nhật ký của Thiếu úy Pierre-Alba Thomas, trợ lý cho Trung tá Valerian (Trung đoàn phó Trung đoàn bộ binh Thuộc địa số 6) là chỉ huy trưởng mặt trận Gia Lâm thì vào ngày 13-1-1947 (3 ngày trước khi Đội Quyết tử Ngọc Thụy tấn công sân bay) tại căn cứ Gia Lâm có 15 chiếc Spitfire.

- Phi đội vận tải 1/34 (groupe de transport - GT 1/34) "Béarn" thuộc Không quân Pháp do Thiếu tá Bataillé chỉ huy với 19 máy bay vận tải AAC-1 Toucan (tức phiên bản Ju-52 do Pháp sản xuất) cùng 20 tổ bay và 163 nhân viên kỹ thuật. Phần lớn phi đội này đóng ở sân bay Biên Hòa. Lực lượng thường trực ở Gia Lâm có 4-5 chiếc, không kể số tăng thêm trong quá trình chuyển quân qua lại từ miền Nam ra.

- Phi đội vận tải 2/15 (groupe de transport - GT 2/15) "Anjou" thuộc Không quân Pháp do Đại úy Henry Grandvoynet chỉ huy với 19 máy bay vận tải C-47 Dakota cùng 17 tổ bay và 210 nhân viên kỹ thuật. Phần lớn phi đội này đóng ở sân bay Tân Sơn Nhứt và có một số chiếc đóng ở Gia Lâm.

- Phi đội trinh sát pháo binh đường không số 1 (1er groupe aérien d'observation d'artillerie - 1er GAOA) thuộc Lục quân Pháp do Đại úy Gabriel Pasquier chỉ huy với 12 máy bay trinh sát MS-500 Criquet (sản xuất theo thiết kế Fi-156 Storch của Đức). Phi đội này chia thành 3 biên đội đóng ở 3 nơi, trong đó Biên đội số 3 do Đại úy Francis Loisy chỉ huy trực chiến ở Gia Lâm với 4 máy bay và 39 quân nhân.

- Trung đội trinh sát đường không thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn pháo binh Thuộc địa vùng Morocco (1/RACM - régiment d'artillerie coloniale du Maroc) do Đại úy Hervé Marrats chỉ huy với 2 máy bay trinh sát L-4 Grasshopper.

Các đơn vị trinh sát ban đầu đóng ở Gia Lâm, nhưng khi chiến sự nổ ra thì còn nhiều lần tiến hành cất hạ cánh ngay trên quảng trường Ba Đình từ đường băng dã chiến do công binh Pháp dọn dẹp.

Các tư liệu của Việt Nam sau này thường đưa ra số liệu máy bay của Pháp ở Gia Lâm trước ngày 19-12-1946 là từ 19-30 chiếc, bao gồm (ít nhất) 4 Spitfire, 4 trinh sát, 4 "oanh tạc" và "6 khu trục". Số liệu về Spitfire và trinh sát tương đối sát với thông tin của Pháp, còn 2 số liệu sau cần đặt dấu hỏi. Pháp lúc này mới chỉ đưa Phi đội 1/2 là đơn vị không quân chiến đấu duy nhất ra miền Bắc và họ cũng chưa có máy bay ném bom ở Đông Dương (phi đội A-26/B-26 Invader đầu tiên tham chiến ở Đông Dương từ năm 1951). Do vậy máy bay "oanh tạc" ở đây có lẽ là để chỉ những chiếc Dakota hoặc Toucan được sử dụng để thả bom (đã diễn ra trong trận Hà Nội). Còn "khu trục" thì hơi khó lý giải. Có một khả năng là để chỉ các thủy phi cơ vũ trang PBY-5 Catalina thuộc Phi đội 8 (Flottille 8F) của Hải quân Pháp - mặc dù không có nhiều dấu hiệu cho thấy phi đội này tham gia sâu vào trận Hà Nội.

Lính Pháp tác chiến tại mặt trận Hà Nội tháng 1-1947. Ảnh: AP.
05/04/2026

Lính Pháp tác chiến tại mặt trận Hà Nội tháng 1-1947. Ảnh: AP.

Nhân mấy ngày gần đây nổi lên câu chuyện xoay quanh địa điểm ĐH Dược, thì đây cũng từng là địa danh liên quan trực tiếp ...
01/04/2026

Nhân mấy ngày gần đây nổi lên câu chuyện xoay quanh địa điểm ĐH Dược, thì đây cũng từng là địa danh liên quan trực tiếp đến cuộc chiến đấu 60 ngày đêm.

Trích bài viết trong sách "Hà Nội di tích cách mạng và kháng chiến"
--------------------------------------------------------------------------
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI, TRẬN ĐỊA CHỐNG PHÁP NĂM 1946

Trường Đại học Dược Hà Nội hiện nay thuộc số nhà 13 - 15 Lê Thánh Tông, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Tại đây, đã diễn ra 2 trận chiến đấu, đó là: đêm 19 rạng ngày 20/12/1946 trung đội 3, đại đội 16, tiểu đoàn 212 đã anh dũng giáng trả những đòn tấn công ác liệt của giặc Pháp, bảo vệ an toàn cho trường Đại học Y - Dược và đêm 23/12/1946 trung đội 2, đại đội 15, tiểu đoàn 212 cùng tiểu đội tự vệ khu Đại học Dược, tiểu đội chợ Hôm đã kiên cường chiến đấu giải thoát cho nhiều đồng bào Thủ đô bị giam giữ ở trường, tiêu diệt 7 tên địch, thu 5 súng trường, phá hủy 1 trung liên. Đây là thắng lợi quan trọng và rất cần thiết nhằm khích lệ quân và dân Thủ đô trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.

Tiểu đoàn 212 thuộc Liên khu II được giao nhiệm vụ trấn giữ mặt trận phía nam Thủ đô. Trung đội 3, đại đội 16 của tiểu đoàn có nhiệm vụ bảo vệ trường Đại học Dược, đồng thời chặn đánh quân Pháp từ nhà thương Đồn Thủy qua đường Lê Thánh Tông tiến đánh Bắc Bộ phủ. Trong mấy tuần liền, trung đội đã bí mật đào một đường hầm từ sân trường luồn dưới hàng rào sắt ra vỉ hè xuống dưới đường Lê Thánh Tông. Ở cuối đường hầm giữa đường phố, ta đặt một quả bom 50kg có dây buộc chốt ngòi nổ luồn vào sân, đợi khi địch đi qua sẽ cho nổ để tiêu diệt địch.

Ngay sau khi đèn điện thành phố vụt tắt, hàng loạt phát đại bác nổ vang cũng là lúc các chiến sĩ trung đội 3, đại đội 16, tiểu đoàn 212 ném một quả lựu đạn và chai xăng vào nơi quân Pháp đóng quân tại hãng ôtô Pho ở bên kia đường. Quân địch điên cuồng xả súng bắn vào trường. Đến 2 giờ sáng ngày 20/12/1946, xe tăng địch gầm rú chạy từ hướng Đồn Thủy qua đường Lê Thánh Tông. Khi chúng ngang qua trường - nơi đặt bom, các chiến sĩ giật bom, nhưng rất tiếc bom không nổ, quân giặc ào vào trường, thế giặc đang mạnh nên quân ta đành phải rút ra bờ sông, men theo đê về phố Lò Lợn, phối hợp kịp thời với các đơn vị bạn đánh địch ở chợ Hôm, Lò Đúc, Nhà Rượu, Viện Pasteur, Vĩnh Tuy, Ô Cầu Dền... góp phần tiêu hao nhiều sinh lực địch, tạo đà cho những trận đánh tiếp theo.

Kể về trận đánh giải thoát cho đồng bào bị quân Pháp giam giữ tại trường Đại học Dược, bác Hoàng Giáp, nguyên là phái viên tác chiến, Ban chỉ huy Mặt trận Liên khu II, cho biết: “Một đơn vị hỗn hợp được giao nhiệm vụ tấn công vào nhà Riviere (nay là trụ sở Cục khí tượng). Đơn vị này bao gồm 2 tiểu đội của trung đội Việt Hổ thuộc đại đội 15, tiểu đoàn 212. Một tiểu đội tự vệ khu đại học do đồng chí Trần Phương Hoè chỉ huy, 1 tiểu đội khu chợ Hôm của đồng chí Phạm Văn Đặng. Tổng số chiến sĩ là hơn 50 người, 32 khẩu súng, 1 mã tấu và lựu đạn”.

Đến 23 giờ ngày 23/12/1946, đơn vị tập kết tại khu vườn rau đầu đường Lò Đúc, chuẩn bị cho cuộc tập kích vào nhà Riviere thì trinh sát dẫn vào Ban chỉ huy 2 người bị bắt khi đang lẩn trốn tị nạn tại nhà thờ Hàm Long. Chúng đem tất cả đồng bào Công giáo lương thiện (khoảng 90 người) đưa về giam giữ tại trường Đại học Dược 50 nam; 40 nữ chúng giam ở trường Luật (nay là trường Đại học Khoa học tự nhiên).

Sau khi nắm chắc tình hình, trung đội trưởng Việt Hổ thống nhất ý kiến với các tiểu đội trưởng: nếu tiến sát nhà Riviere sẽ gặp khó khăn lớn là dễ bị quân Pháp đánh thọc phía sau lưng, vì vậy, tốt nhất là đánh vào khu trường Đại học Dược để giải thoát cho đồng bào bị địch giam giữ. Kế hoạch được phân công cụ thể: tiểu đội Phạm Văn Đặng giải cứu những người đàn ông, tiểu đội Trần Phương Hoè giải thoát cho chị em phụ nữ, 2 tiểu đội còn lại tấn công vào khu nhà giữa. Hai bố con đồng bào Công giáo tình nguyện dẫn đường cho đơn vị.

Quân ta từ khu vườn rau, vượt đường Ngô Thì Nhậm, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt lên ngã tư Hai Bà Trưng và tiến vào phố Đặng Thái Thân một cách êm thấm. Anh em tiến vào xưởng sửa chữa xe Pho và qua lỗ tường sang sân trường Đại học Dược. Cả 3 tổ lặng lẽ tiếp cận khu nhà thấp đối diện với dãy nhà chính của trường. Đội trưởng Việt Hổ dặn anh Hoè và anh Đặng hiệu lệnh nổ súng để giải thoát cho đồng bào. Sau 3 tiếng lựu đạn nổ chát chúa, 2 tiểu đội của Đặng, Hoè đều đồng thời xông vào sân trường.

Tại khu trường thuốc, Đặng dẫn đầu đội quân lao vào khu cửa chính, bắn tung ổ khoá, quân ta xông thẳng lên tầng trên, đồng bào Công giáo bị giam ở giảng đường chạy ùa ra, sau khi lấy lại đồ đạc, bà con theo các chiến sĩ thoát ra phía đường Đặng Thái Thân, vòng qua nhà Bác Cổ, vượt đê sang bãi sông Hồng, chạy về khu Thanh Lương, Lò Đúc.

Tại khu trường Luật, tiểu đội Hoè xông lên đụng ngay 5 tên lính đang chạy xuống, các chiến sĩ bắn một loạt đạn 3 tên giặc bị chết, còn lại 2 tên, chúng xả súng bắn trả quyết liệt. Đồng chí Hoè bị đạn găm vào mạng sườn trái vẫn còn hô “ném lựu đạn”, một loạt lựu đạn tung lên làm tiếng súng của 2 tên địch im bặt. Các chiến sĩ tiến vào giải thoát cho số chị em và rút an toàn về khu Thanh Lương, Lò Đúc.

Tại khu nhà giữa, 2 tiểu đội của Việt Hổ tung 3 quả lựu đạn vào cửa sổ đặt khẩu trọng liên, tiêu diệt 2 lính Pháp. Bọn Pháp ở các phòng hai bên xả súng dữ dội, chặn bước tiến của quân ta làm cho 2 chiến sĩ bị thương khi đang loay hoay tìm cách tịch thu khẩu trọng liên của địch. Khoảng 30 phút sau, xe tăng của quân Pháp từ nhà thương Đồn Thuỷ ầm ầm tiến lên cứu viện. Thấy tình thế bất lợi, đội trưởng Việt Hổ cho phá khẩu trọng liên và ném tiếp một quả lựu đạn về phía quân địch, đồng thời ra lệnh rút quân ra phía bờ sông về khu Thanh Lương, Lò Đúc để bảo toàn lực lượng.

Với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, 2 trận chiến đấu đêm 19 rạng ngày 20/12/1946 và đêm 23/12/1946 tại trường Đại học Dược Hà Nội là 2 trận chiến hết sức mưu trí, dũng cảm của quân và dân Thủ đô, đẩy lùi nhiều đợt tấn công, tiêu hao nhiều sinh lực địch, giải thoát nhiều đồng bào bị giặc Pháp giam giữ, bảo vệ an toàn cho trường Đại học Dược. Chiến công này đã góp phần không nhỏ vào chiến công chung của quân và dân Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.

Trường Đại học Dược Hà Nội đã được gắn biển di tích cách mạng kháng chiến.

Nguyễn Thị Hiên

Chân dung một chiến sĩ Vệ quốc đoàn còn rất trẻ nhập ngũ ở Hà Nội ngày 1-12-1946. Ảnh do quân Pháp thu được trong quá tr...
31/03/2026

Chân dung một chiến sĩ Vệ quốc đoàn còn rất trẻ nhập ngũ ở Hà Nội ngày 1-12-1946. Ảnh do quân Pháp thu được trong quá trình chiến đấu 1946-1947.

Bữa cơm của 1 đơn vị tại hành lang Bệnh viện Bạch Mai, 1946-1947. Ảnh: Nguyễn Bá Khoản.
26/03/2026

Bữa cơm của 1 đơn vị tại hành lang Bệnh viện Bạch Mai, 1946-1947. Ảnh: Nguyễn Bá Khoản.

23/03/2026

Diễu binh chung Việt-Pháp tại Hà Nội sáng 22-3-1946. Tư liệu của Trung tâm sản xuất và truyền thông của BQP Pháp (ECPAD).

80 NĂM TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN 1946-202622-3-1946: Diễu binh chung Việt-Pháp (III)Bên phía Việt Nam, lực lượng diễu binh đ...
22/03/2026

80 NĂM TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN 1946-2026

22-3-1946: Diễu binh chung Việt-Pháp (III)

Bên phía Việt Nam, lực lượng diễu binh đặt dưới sự chỉ huy của ông Đàm Quang Trung (Khu trưởng Khu Hà Nội) và Trần Việt Hùng (Khu phó Khu Hà Nội) gồm 3 đại đội Vệ quốc đoàn được rút từ 3 tiểu đoàn, trước đó đã được tập trung về Trại Vệ quốc đoàn Trung ương (40 Hàng Bài) để chỉnh đốn và luyện tập đội ngũ.

Đi đầu là chỉ huy phó Trần Việt Hùng trên mô tô 3 bánh mang quân kỳ cùng đoàn quân nhạc của ông Đinh Ngọc Liên. Tiếp đó là 3 khối bộ binh mặc quân phục kaki màu cỏ úa, đội mũ calo xanh nước biển đi theo hàng 6, lần lượt là các sĩ quan mang súng ngắn, hạ sĩ quan mang tiểu liên, xạ thủ trung liên và chiến sĩ mang súng trường gắn lưỡi lê. Sau cùng là chỉ huy trưởng Đàm Quang Trung đi xe jeep và tiểu đội vệ binh trang bị Carbine.

Với tính chất biểu dương lực lượng sẵn sàng kháng chiến, lực lượng diễu binh được ưu tiên trang bị đồng bộ và đầy đủ hơn nhiều so với các đơn vị Vệ quốc đoàn thông thường. Bản thân các sĩ quan cũng được trang bị “tạm” quân hàm trên cổ áo phỏng theo kiểu Nhật và Trung Quốc (ngày 22-3-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh mới ký sắc lệnh số 33 quy định về phù hiệu các cấp của lục quân, trong đó áp dụng quân hàm trên cầu vai phỏng theo kiểu Pháp).

Đây có thể coi là cuộc diễu binh cấp quốc gia đầu tiên trong lịch sử QĐNDVN, và cũng là lần đầu tiên QĐNDVN diễu binh chung với một quân đội nước ngoài (phải đến 2025 thì mới có cuộc diễu binh cấp quốc gia thứ hai có quân đội nước ngoài tham dự là lễ kỷ niệm chiến thắng 30-4 ở TPHCM với sự góp mặt của quân đội Trung Quốc, Lào và Campuchia).

Address

Hanoi
Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hà Nội 1946 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Museum

Send a message to Hà Nội 1946:

Share