Tuổi Trẻ Họ Nguyễn Gia Miêu. Banlienlac

  • Home
  • Tuổi Trẻ Họ Nguyễn Gia Miêu. Banlienlac

Tuổi Trẻ Họ Nguyễn Gia Miêu. Banlienlac Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Tuổi Trẻ Họ Nguyễn Gia Miêu. Banlienlac, History Museum, .

DANH SÁCH CÁC VỊ CÓ TƯỚC PHONG TỪ THỜI LÊ TRỞ VỀ TRƯỚC CỦA HỌ NGUYỄN GIA MIÊU NGOẠI TRANG(gồm cả một số các vị tiên tổ t...
13/04/2026

DANH SÁCH CÁC VỊ CÓ TƯỚC PHONG TỪ THỜI LÊ TRỞ VỀ TRƯỚC CỦA HỌ NGUYỄN GIA MIÊU NGOẠI TRANG
(gồm cả một số các vị tiên tổ trước khi định cư ở Gia Miêu, hầu hết các vị ở đây là con cháu của Hoằng quốc công Nguyễn Công Duẩn)
* Tước vương: 2 vị
1. Hoài Đạo vương Nguyễn Nộn
2. Nghĩa Huân vương Nguyễn Văn Lang
* Tước công một chữ: 4 vị
1. Du Cần công Nguyễn Chiếm
2. Chiêu Huân Tĩnh công Nguyễn Kim
3. Cẩn Nghĩa công Nguyễn Hoàng
4. Lị Nhân công Nguyễn Hán
* Tước quốc công: 12 vị
1. Định quốc công Nguyễn Bặc
2. Hoà quốc công Nguyễn Quang Lợi
3. Vinh quốc công Nguyễn Thành
4. Dũng quốc công Nguyễn Dã
5. Huệ quốc công Nguyễn Biện
6. Hoằng quốc công Nguyễn Công Duẩn
7. Trinh quốc công Nguyễn Đức Trung
8. Sảng quốc công Nguyễn Văn Lỗ
9. Phó quốc công Nguyễn Như Trác
10. Hoằng quốc công Nguyễn Công Độ
11. Trừng quốc công Nguyễn Văn Lưu
12. Lâm quốc công Nguyễn Hoằng Dụ
* Tước quận công: 61 vị
1. Mục quận công Nguyễn Nhân Chính
2. Châu quận công Nguyễn Như Hiếu
3. Phổ quận công Nguyễn Bá Cao
4. Phượng quận công Nguyễn Địch Sầm
5. Bảo quận công Nguyễn Văn Tiến
6. Bình quận công Nguyễn Lý
7. Đương quận công Nguyễn Soái
8. Huyên quận công Nguyễn Hữu Vĩnh
9. Tộ quận công Nguyễn Hồng Tộ
10. Thế quận công Nguyễn Sĩ
11. Tiên quận công Nguyễn Hữu Phú
12. Phù quận công Nguyễn Hữu Lộc
13. Dũng quận công Nguyễn Thiền
14. Thuyên quận công Nguyễn Đăng Cơ
15. Lương quận công Nguyễn Thời Dự
16. Hiển quận công Nguyễn Văn Đường
17. Miện quận công Nguyễn Văn Tộ
18. Bá quận công Nguyễn Văn Đạt
19. Lang quận công Nguyễn Văn Tường
20. Phùng quận công Nguyễn Văn Lộc
21. Vệ quận công Nguyễn Văn Bút
22. Khương quận công Nguyễn Văn Cường
23. Dận quận công Nguyễn Đăng Lục
24. Vũ quận công Nguyễn Công Huấn
25. Tuyên quận công Nguyễn Công Tiêu
26. Lãng quận công Nguyễn Uông
27. Hoà quận công Nguyễn Hà
27. Hoà quận công Nguyễn Diễn
29. Cẩm quận công Nguyễn Phúc Hải
30. Thụy quận công Nguyễn Phúc Nguyên
31. Hữu quận công Nguyễn Phúc Trạch
32. Nghĩa quận công Nguyễn Phúc Dương
33. Văn quận công Nguyễn Phúc Hiệp
34. Hiệp quận công Nguyễn Trị
35. Phụ quận công Nguyễn Hắc
36. Xuyên quận công Nguyễn Động
37. Bình quận công Nguyễn Bằng
38. Thái quận công Nguyễn Lộc
39. Văn quận công Nguyễn Tuyên
40. Thủy quận công Nguyễn Động
41. Thuần quận công Nguyễn Phúc...(không rõ tên)
42. Trụ quận công Nguyễn Phúc Nhuận
43. Sầm quận công Nguyễn Phúc Lục
44. Trụ quận công Bế Nguyễn Quỳnh
45. Dụ quận công Bế Nguyễn Phụ
46. Đình quận công Bế Nguyễn Hoàn
47. Gián quận công Bế Nguyễn Nghi
48. Diên quận công Bế Nguyễn Thành
49. Ngạn quận công Bế Nguyễn...(không rõ tên)
50. Lang quận công Bế Nguyễn Nhậm
51. Cơ quận công Bế Nguyễn Tiến
52. Bỉnh quận công Nguyễn Hoằng Uy
53. Phụng quận công Nguyễn Diễn
54. Dực quận công Nguyễn Hiền
55. Trưng quận công Nguyễn Trưng
56. Bỉnh quận công Nguyễn Gia Đa
57. Siêu quận công Nguyễn Gia Châu
58. Thuận quận công Nguyễn Gia Kiên
59. Nông quận công Nguyễn Gia...(không rõ tên)
60. Ngôn quận công Nguyễn Gia Tuyên
61. Lại quận công Nguyễn Hữu Vịnh
*Tước hầu: 181 vị
1. Chiêu Quang hầu Nguyễn Trừ
2. Lễ Khê hầu Nguyễn Văn Lễ
3. Lãm Động hầu Nguyễn Văn Tốn
4. Quỳnh Sơn hầu Nguyễn Văn Lữ
5. Mai Kiều hầu Nguyễn Trứ
6. Dương Sơn hầu Nguyễn Nghiêm
7. Thọ Dương hầu Nguyễn Hựu
8. Phú Khê hầu Nguyễn Sử
9. Hiền Trung hầu Nguyễn Gia Hiền
10. An Phúc hầu Nguyễn Hoà Cảnh
11. Diễn Thọ hầu Nguyễn Hữu Diễn
12. Bình Phú hầu Nguyễn Hữu Dịch
13. Bình Hoà hầu Nguyễn Hữu Kỷ
14. Xuân Đường hầu Nguyễn Hữu Đạc
15. Đoan Trang hầu Nguyễn Hữu Liêu
16. Hoa Đổng hầu Nguyễn Hữu Tông
17. Chấn Vũ hầu Nguyễn Hữu Lệ
18. Tiễn Thọ hầu Nguyễn Hữu Thể
19. Hoà Thụy hầu Nguyễn Hữu Thuận
20. Tào Trung hầu Nguyễn Hữu Tường
21. Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Cơ
22. Cống Khê hầu Nguyễn Hữu Quý
23. Lâm Xuyên hầu Nguyễn Hữu Tiến
24. Cường Vũ hầu Nguyễn Hữu Dụ
25. Bá Lễ hầu Nguyễn Hữu Lễ
26. Đăng Tiến hầu Nguyễn Hữu Đỗ
27. Đỉnh Trung hầu Nguyễn Hữu Chỉ
28. Phan Tăng hầu Nguyễn Hữu Tăng
29. Sâm Lộc hầu Nguyễn Hữu Vân
30. Kiên Thọ hầu Nguyễn Hữu Tự
31. Nghĩa Trung hầu Nguyễn Hữu Bị
32. Tông Ban hầu Nguyễn Đăng Phụ
33. Văn Trinh hầu Nguyễn Thời Kỳ
34. Đạt Lễ hầu Nguyễn Văn Phong
35. Đức Dương hầu Nguyễn Văn Nhân
36. Phú Nham hầu Nguyễn Văn Dụ
37. Phong Dương hầu Nguyễn Văn Hựu
38. Kiên Trung hầu Nguyễn Văn Vịnh
39. Tào Xuyên hầu Nguyễn Công Tào
40. Cẩn Vũ hầu Nguyễn Hữu Sâm
41. Côn Lộc hầu Nguyễn Văn Trạc
42. Toại Thọ hầu Nguyễn Đăng Hanh
43. Vinh Nham hầu Nguyễn Văn Viên
44. Duệ Lương hầu Nguyễn Văn Khể
45. Án Hưng hầu Nguyễn Văn Ức
46. Đình Lược hầu Nguyễn Văn Kính
47. Uyển Tường hầu Nguyễn Địch Sở
48. Cẩn Triều hầu Nguyễn Địch Chiêm
49. Đỉnh Trung hầu Nguyễn Địch Lịch
50. Trân Phụng hầu Nguyễn Địch Phú
51. Phàn Long hầu Nguyễn Địch Phàn
52. Nhậm Trung hầu Nguyễn Địch Lượng
53. Trinh Nghĩa hầu Nguyễn Công Uyên
54. Triều Nham hầu Nguyễn Công Tự
55. Trạch Đức hầu Nguyễn Công Vị
56. Tiến An hầu Nguyễn Công Thận
57. Đông Xuyên hầu Nguyễn Công Thăng
58. Nhân Nghĩa hầu Nguyễn Công Nghị
59. Triều Đông hầu Nguyễn Công Khiết
60. Liêu Tường hầu Nguyễn Công Hiệp
61. Phúc Thắng hầu Nguyễn Công Thái
62. Bảo Long hầu Nguyễn Công Nghi
63. Tăng Phúc hầu Nguyễn Đăng Doanh
64. Thanh Xuyên hầu Nguyễn Uy
65. Uy Xuân hầu Nguyễn Tông Thái
66. Tuyên Lương hầu Nguyễn Toản
67. Quận Cung hầu Nguyễn Khải
68. Phùng Thọ hầu Nguyễn Trang
69. Phan Nghĩa hầu Nguyễn Nhậm
70. An Thọ hầu Nguyễn...(không rõ tên)
71. Phái Đằng hầu Nguyễn Nhuận
72. Thắng Lễ hầu Nguyễn Thắng
73. Quảng Dũng hầu Nguyễn Quảng
74. Lệ Nghĩa hầu Nguyễn...(không rõ tên)
75. Trinh Tường hầu Nguyễn Hoan
76. Trần Kỳ hầu Nguyễn Thắng
77. Yến Tường hầu Nguyễn Tuấn
78. Đình Vũ hầu Nguyễn Dật
79. Trinh Tường hầu Nguyễn Huyên
80. Uyên Minh hầu Nguyễn Thể
81. Tuyên Lương hầu Nguyễn Toản
82. Đặng Lược hầu Nguyễn Bái
83. Cổn Vị hầu Nguyễn...(không rõ tên)
84. Tuyên Lương hầu Nguyễn Yên
85. Nhậm Trung hầu Nguyễn Đãi
86. Phi Tường hầu Nguyễn Thắng
87. Nam Lĩnh hầu Nguyễn Công Bái
88. Côn Lộc hầu Nguyễn Công Bành
89. Huy Tường hầu Nguyễn Phúc...(không rõ tên)
90. Phúc Lĩnh hầu Nguyễn Bá Tông
91. Siêu Lĩnh hầu Nguyễn Phúc Ban
92. Huyên Vũ hầu Nguyễn Thì Lương
93. Khuông Lĩnh hầu Nguyễn Phúc Hiệp
94. Phác Thọ hầu Nguyễn Phúc Mẫn
95. Thuyên Vũ hầu Nguyễn Phúc Khoát
96. Văn Dũng hầu Nguyễn Phúc Nghiêm
97. Thắng Nhuệ hầu Nguyễn Phúc Lâm
98. Đằng Lâm hầu Bế Nguyễn Tuấn
99. Quyến Vũ hầu Bế Nguyễn Điểm
100. Liên Nha hầu Bế Nguyễn...(không rõ tên)
101. Lâm Quang hầu Nguyễn Ngọc quý
102. Lịch Trung hầu Nguyễn Bút
103. Tường Quang hầu Nguyễn Dựng
104. Tính Trung hầu Nguyễn Tri
105. Thuần Lĩnh hầu Nguyễn Địch Thuật
106. Phúc Lĩnh hầu Nguyễn Địch Đăng
107. Cẩn Lĩnh hầu Nguyễn Địch Tài
108. Thể Lĩnh hầu Nguyễn Địch Tăng
109. Cơ Lĩnh hầu Nguyễn Địch Thắng
110. Đoái Lĩnh hầu Nguyễn Địch Côn
111. Mai Lĩnh hầu Nguyễn Địch Chử
112. Phương Lĩnh hầu Nguyễn Địch Kỳ
113. Lịch Lĩnh hầu Nguyễn Địch Lịch
114. Trà Lĩnh hầu Nguyễn Địch Nhương
115. Điện Lĩnh hầu Nguyễn Địch Ban
116. Ngạn Lĩnh hầu Nguyễn Địch Bân
117. Trọng Lĩnh hầu Nguyễn Địch Trọng
118. Quỳnh Lĩnh hầu Nguyễn Địch Quỳnh
119. Nam Lĩnh hầu Nguyễn Văn Kiên
120. Tính Trung hầu Nguyễn Văn Tông
121. Quan Thọ hầu Nguyễn Văn Lý
122. Tính Trung hầu Bế Nguyễn...(không rõ tên)
123. Đề Vũ hầu Bế Nguyễn...(không rõ tên)
124. Phác Vũ hầu Bế Nguyễn...(không rõ tên)
125. Tản Vũ hầu Bế Nguyễn...(không rõ tên)
126. Liên Trung hầu Bế Nguyễn...(không rõ tên)
127. Cẩn Trung hầu Bế Nguyễn...(không rõ tên)
128. Phần Vũ hầu Bế Nguyễn...(không rõ tên)
129. Tràng Vũ hầu Bế Nguyễn...(không rõ tên)
130. Huyền Vũ hầu Bế Nguyễn Triệu
131. Hưng Đại hầu Nguyễn Hữu Thái
132. Tây Xuyên hầu Nguyễn Vinh
133. Vụ Lĩnh hầu Nguyễn Vụ
134. Diễn Phái hầu Nguyễn Thanh
135. Điện Nham hầu Nguyễn Du
136. Ba Lộc hầu Nguyễn Địch Tường
137. Ngạn Lộc hầu Nguyễn Địch ...(không rõ tên)
138. Nghiêm Lộc hầu Nguyễn Địch ...(không rõ tên)
139. Hoa Dương hầu Nguyễn Thế
140. Yến Lộc hầu Nguyễn Địch Túc
141. Thuần Lĩnh hầu Nguyễn Địch Thuật
142. Thạc Cung hầu Nguyễn Gia Cầu
143. Tăng Cung hầu Nguyễn Gia Hoàn
144. Đạt Vũ hầu Nguyễn Gia Ngô
145. Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều
146. Ngoạn Trung hầu Nguyễn Gia Cơ
147. Du Lĩnh hầu Nguyễn Gia Xuyến
148. Nghĩa Xuyên hầu Nguyễn Địch Trương
149. Diễn Phái hầu Nguyễn Thanh
150. Vị Lộc hầu Nguyễn Địch Lũ
151.Phổ Lộc hầu Nguyễn Địch ...(không rõ tên)
152. Triều Nham hầu Nguyễn Gia...(không rõ tên)
153. Phú Khê hầu Nguyễn Sử
154. Thắng Lễ hầu Nguyễn Vĩ
155. Hiển Lộc hầu Nguyễn Nghi
156. Khiêm Cung hầu Nguyễn Giai
157. Phấn Nghĩa hầu Nguyễn Dật
158. Nhuệ Vũ hầu Nguyễn Gián
159. Triều Lương hầu Nguyễn Hy
160. Khánh Trung hầu Nguyễn Điền
161. Loan Hưng hầu Nguyễn Uyển
162. Diễn Phái hầu Nguyễn Tiên
163. Vị Lộc hầu Nguyễn Tập
164. Huy Thọ hầu Nguyễn Gia Thể
165. Doãn Đức hầu Nguyễn Gia Doãn
166. Ngạn Thọ hầu Nguyễn Gia Tông
167. Kế Trung hầu Nguyễn Gia Kế
168. Huy Thọ hầu Nguyễn Gia Kinh
169. Phác Thọ hầu Nguyễn Gia Ích
170. Điện Thọ hầu Nguyễn Gia Điện
171. Thạc Cung hầu Nguyễn Gia Cần
172. Đại Vũ hầu Nguyễn Gia Viên
173. Giác Vũ hầu Nguyễn Gia Ngọc
174. Điêu Thọ hầu Nguyễn Gia Trà
175. Nhị Khê hầu Nguyễn Gia Đề
176. Niêm Đức hầu Nguyễn Gia Bình
177. Bích Vũ hầu Nguyễn Gia Nhuyễn
178. Thụ Lĩnh hầu Nguyễn Gia Lâm
179. Trác Ngọc hầu Nguyễn Gia Trào
180. Khuê Ngọc hầu Nguyễn Gia Khuê
181. Quân Trung hầu Nguyễn Gia Viên
*Tước bá: 56 vị
1. Lễ Xuyên bá Nguyễn Tá
2. Hoằng Khiêm bá Nguyễn Hữu Dực
3. Chiêu Vũ bá Nguyễn Miện
4. Tường Trung bá Nguyễn Diễn Tín
5. Bàn Trung bá Nguyễn Hữu Trịnh
6. Luân Tường bá Nguyễn Văn Bái
7. Công Vũ bá Nguyễn Đăng Công
8. Quyền Vũ bá Nguyễn Văn Chí
9. Lạc Vũ bá Nguyễn Đăng Lạc
10. Phương Vũ bá Nguyễn Đăng Phương
11. Xuân Vũ bá Nguyễn Đình Tướng
12. Huy vũ bá Nguyễn Đăng Huynh
13. Giám Vũ bá Nguyễn Đăng Đệ
14. Cao Vũ bá Nguyễn Đăng Lãm
15. Tiệp Vũ bá Nguyễn Đăng Thoan
16. Bích Thọ bá Nguyễn Đăng Liêm
17. Nhậm Vũ bá Nguyễn Đăng Vinh
18. Thái Thuyên bá Nguyễn Đăng Thực
19. Quyền Trung bá Nguyễn Đăng Hộ
20. Lân Vũ bá Nguyễn Đăng Lân
21. Tuân Vũ bá Nguyễn Đăng Tuân
22. Khương Vũ bá Nguyễn Công Khương
23. Vinh Vũ bá Nguyễn Công...(không rõ tên)
24. Quân Vũ bá Nguyễn Tăng
25. Kỳ Vũ bá Nguyễn Cử
26. Phái Thọ bá Nguyễn Nhâm
27. Tố Vũ bá Nguyễn Diễn
28. Hiển Vũ bá Nguyễn Dận
29. Năng Nghĩa bá Nguyễn Uyên
30. Trương Vũ bá Nguyễn Viện
31. Dực Vũ bá Nguyễn...(không rõ tên)
32. Đề Vũ bá Nguyễn Chấn
33. Dận Tường bá Nguyễn Ngự
34. Nghĩa Tường bá Nguyễn Nghĩa
35. Liêm Vũ bá Nguyễn Ức
36. Gia Thọ bá Nguyễn Bách
37. Bật Thọ bá Nguyễn Trọng
38. Cẩn Vũ bá Nguyễn Phúc Tá
39. Hạo Vũ bá Nguyễn Phúc Hạo
40. Tính Vũ bá Nguyễn Phúc Trì
41. Vịnh Vũ bá Nguyễn Phúc Trì
42. Vịnh Vũ bá Nguyễn Phúc Hồ
43. Hoạt Vũ bá Nguyễn Phúc Diễn
44. Tuân Vũ bá Nguyễn Sắt
45. Kiện Vũ bá Nguyễn Hướng
46. Hạo Vũ bá Nguyễn Phúc Trạch
47. Kính Vũ bá Nguyễn Phúc Hà
48. Viện Vũ bá Nguyễn Phúc Khê
49. Dược Thạch bá Nguyễn Phúc Tào
50. Kế Lộc Vũ bá Nguyễn Phúc Tiêu
51. Đằng Lộc Vũ bá Nguyễn Phúc Phái
52. Tiệp Vũ bá Nguyễn Phúc Thiệp
53. Tài Trung bá Nguyễn Tài
54. Trác Ngọc bá Nguyễn Gia Trác
55. Tứ Khê bá Nguyễn Gia Điêu
56. Thanh Khê bá Nguyễn Gia Diễn
*Tước tử: 1 vị
1. Nhuận Trạch tử Nguyễn Văn Bào

****Trên đây là danh sách thống kê tại các chi phái ở Bắc Hà và một số vị nhận tước phong của nhà Lê rồi vào Nam Hà. Chắc chắn còn thiếu sót nhiều vị, và có sai biệt tước phong của nhiều vị do thời điểm chép phả khác nhau, hoặc nhiều vị có chức mà không chép tước, chỉ nói có được tước phong mà không chép hiệu... Mong được góp ý và bổ sung thêm.
Nguồn Fb: Nguyễn Phong

Vạn sự khởi đầu xuân, lễ đầu năm báo hiệu đầy khởi sắc. https://www.facebook.com/share/p/1CbmfSCRNZ/?mibextid=oFDknkHướn...
08/03/2026

Vạn sự khởi đầu xuân, lễ đầu năm báo hiệu đầy khởi sắc.
https://www.facebook.com/share/p/1CbmfSCRNZ/?mibextid=oFDknk
Hướng về Tổ Tiên khai sáng rộng đường mở lối chúng ta tiến bước.
Hãy gửi lời chúc mừng mùa xuân mong ước Thống Nhất Họ Tộc!
🌸🌸🌸🌸🌸

“VĂN THƯ – LƯU TRỮ THỜI NGUYỄN (1802-1945)” BÀI HỌC TỪ TIỀN NHÂNGìn giữ và trao truyền kí ức dân tộc, khơi dậy niềm tự h...
03/01/2026

“VĂN THƯ – LƯU TRỮ THỜI NGUYỄN (1802-1945)” BÀI HỌC TỪ TIỀN NHÂN

Gìn giữ và trao truyền kí ức dân tộc, khơi dậy niềm tự hào về truyền thống ngành Lưu trữ Việt Nam (03/01/1946- 03/01/2026).
Chào mừng 80 năm truyền thống vẻ vang của ngành Lưu trữ Việt Nam (03/01/1946 – 03/01/2026), cùng “ôn cố nhi tri tân” qua cuốn sách “Văn thư Lưu trữ thời Nguyễn (1802-1945)” để trân trọng công lao to lớn của các bậc tiền nhân, từ đó thêm yêu và mong muốn cống hiến phát triển ngành.

Với 489 văn bản tiêu biểu lựa chọn từ khối Châu bản triều Nguyễn – Di sản tư liệu thế giới của UNESCO, hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, cuốn sách “Văn thư - Lưu trữ thời Nguyễn (1802-1945)” là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị đối với các nhà nghiên cứu và những độc giả quan tâm đến công tác Văn thư, Lưu trữ dưới triều Nguyễn, từ đó có cái nhìn toàn diện đối với những cống hiến tích cực, thành tựu đã đạt được và những mặt hạn chế của triều Nguyễn trong lĩnh vực này.

*** Liên hệ đặt mua sách: Chị Oanh - 0915.444.858

🌐 Chi tiết bài viết tại:

Với 489 văn bản tiêu biểu lựa chọn từ khối Châu bản triều Nguyễn – Di sản tư liệu thế giới của UNESCO, hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, cuốn sách “Văn thư - Lưu trữ thời Nguyễn (1802-1945)” là nguồn tư liệu tham k...

02/01/2026
Gia Miêu: vấn Tổ, tầm Tông Gia Miêu đoàn kết máu hồng, ngàn năm Trải qua bao cuộc bể dâu Năm nay Bính ngọ xum vầy tông c...
01/01/2026

Gia Miêu: vấn Tổ, tầm Tông
Gia Miêu đoàn kết máu hồng, ngàn năm
Trải qua bao cuộc bể dâu
Năm nay Bính ngọ xum vầy tông chi ...

(Bế Ngọc Thành)

NGÀY GIỖ KỊ của ngài THÁI BẢO HOẰNG QUỐC CÔNG NGUYỄN CÔNG DUẨNqua gia phả cổ của các chi họ Nguyễn gốc Gia Miêu      Hội...
25/07/2024

NGÀY GIỖ KỊ của ngài THÁI BẢO HOẰNG QUỐC CÔNG NGUYỄN CÔNG DUẨN
qua gia phả cổ của các chi họ Nguyễn gốc Gia Miêu
Hội đồng họ Nguyễn gốc Gia Miêu đã sưu tầm và copy được một số bản phả cổ hiện đang lưu giữ tại nhà thờ của các chi phái thuộc dòng họ Nguyễn gốc Gia Miêu.
Các gia phả cổ này có các đặc điểm sau:
1- Đều là gia phả của các chi họ là hậu duệ của Trinh Quốc công Nguyễn Đức Trung- Trưởng nam của Thái bảo Hoằng Quốc công Nguyễn Công Duẩn.
2- Được chép lại vào thời Nguyễn, thời các chi họ con cháu của cụ Nguyễn Công Duẩn đang được tin tưởng và trọng vọng trên đất Bắc hà.
3- Có 01 bản gia phả quan trọng có ấn xác nhận của chính quyền cấp tỉnh.
Các nội dung cụ thể liên quan đến ngày kị của Thái bảo Hoằng Quốc công Nguyễn Công Duẩn trong các gia phả cổ như sau:
Bản số 1- Phả chi họ Nguyễn Hữu ở Mậu Lâm, Ba Đình, Nga Sơn.
Đây là nơi có nhà thờ Trinh Quốc công Nguyễn Đức Trung và các con cháu.
Nội dung chép:
- TỐT TỨ THÁI BẢO HOẰNG QUỐC CÔNG, TỨ THỤY BẢO TOÀN, KỊ THỜI THẤT NGUYỆT SƠ NHẤT NHẬT, BẢN HUYỆN TỔNG XÃ TRANG TUẾ THỜI PHỤNG TỰ (Tạm dịch: Khi mất được ban tặng Thái bảo Hoằng Quốc công, ban tên thụy Bảo Toàn, ngày kị mồng Một tháng Bẩy, Huyện Tổng làng xã ta lo cúng tế hàng năm);
- TỰ ĐỨC NGUYÊN NIÊN THẬP NHẤT NGUYỆT NHỊ THẬP CỬU NHẬT (Tạm dịch: Ngày 29 tháng 11 năm Tự Đức thứ Nhất [1848]).
Bản gia phả này rất quan trọng vì có ấn THANH HÓA BỐ CHÍNH SỨ TY CHI ẤN là ấn của quan Bố chính tỉnh Thanh Hóa (cỡ Phó chủ tịch thường trực tỉnh) phụ trách về nhân khẩu, ruộng đất, thuế má. Như vậy, đây là bản gia phả có xác nhận của chính quyền tỉnh Thanh Hóa thời vua Tự Đức. Bản phả này có giá trị ngang với các bản Ngọc điệp, Tôn phả do Tôn nhân phủ quản lý. Ngọc điệp Tôn phả chép về các chi Tôn thất Nguyễn Phước ở Nam hà, bản phả này chép về các chi Công tính và Công tính Chính chi ở Bắc hà.
Bản số 2- Phả chi họ Nguyễn Trọng ở Bút Sơn, Hoằng Hóa (chi Đích trưởng)
Nội dung chép:
- TỐT TỨ THÁI BẢO HOẰNG QUỐC CÔNG, TỨ THỤY BẢO TOÀN, KỊ THỜI THẤT NGUYỆT SƠ NHẤT NHẬT, BẢN HUYỆN TỔNG XÃ TRANG TUẾ THỜI PHỤNG TỰ (Tạm dịch: Khi mất được ban tặng Thái bảo Hoằng Quốc công, ban tên thụy Bảo Toàn, ngày kị mồng Một tháng Bẩy, Huyện Tổng làng xã ta lo cúng tế hàng năm);
- DUY TÂN GIÁP DẦN NIÊN THU TRỌNG NGUYỆT THƯỢNG HOÁN.
NHĨ TÔN NGUYỄN TƯ KIÊM PHỤNG SAO NGUYÊN PHẢ (Tạm dịch: Đầu tháng 8, năm Giáp Dần đời vua Duy Tân [1914], cháu 8 đời là Nguyễn Tư Kiêm sao chép lại từ phả gốc).
Nguyễn gia thế phả đồ kí
- Thượng thư bộ Hộ Quỳnh Sơn hầu Nguyễn Lữ sưu tầm biên tập (1515-1516);
- Thiêm sự triều chính Thái bảo Thanh Quận công Nguyễn Nghi tiếp tục chép (1617-1628);
- Thiêm sự triều chính Thiếu bảo Đông Xuyên hầu Nguyễn Công Thăng tiếp tục chép (1729-1735);
- Nhập thị ngũ phủ Thái bảo Đạt Vũ hầu Nguyễn Ngô tiếp tục chép (1740-1786);
- Lễ bộ Tả Tham tri Hanh Thông hầu Nguyễn Bá Hanh vâng mệnh xem xét lại.
- Cần chính điện học sĩ Châu Phong hầu Nguyễn Viên cùng vâng mệnh xem xét lại;
- Trưởng họ Công tính Chiêm Ân hầu Nguyễn Hựu Chiêm vâng mệnh sao lại và giữ gìn.
Bản số 3- Phả chi họ Nguyễn Hữu ở Ý Yên, NamĐịnh
Nội dung chép:
- TỐT TỨ THÁI BẢO HOẰNG QUỐC CÔNG, THỤY BẢO TOÀN, KỊ THẤT NGUYỆT SƠ NHẤT NHẬT, BẢN HUYỆN XÃ TRANG TUẾ THỜI PHỤNG TỰ (Tạm dịch: Khi mất được ban tặng Thái bảo Hoằng Quốc công, thụy Bảo Toàn, kị mồng Một tháng Bẩy, Huyện làng xã ta lo cúng tế hàng năm).
Bản số 4- Phả chi họ Nguyễn Hữu ở Ý Yên, NamĐịnh
Nội dung chép:
- TỐT TỨ THÁI BẢO HOẰNG QUỐC CÔNG, THỤY BẢO TOÀN, KỊ THẤT NGUYỆT SƠ NHẤT NHẬT, BẢN HUYỆN XÃ TRANG TUẾ THỜI PHỤNG TỰ (Tạm dịch: Khi mất được ban tặng Thái bảo Hoằng Quốc công, thụy Bảo Toàn, kị mồng Một tháng Bẩy, Huyện làng xã ta lo cúng tế hàng năm).
Bản số 5- Phả chi họ Nguyễn Hữu ở Nga Hải, Nga Sơn
Nội dung chép:
- TỐT TỨ THÁI BẢO HOẰNG QUỐC CÔNG, THỤY BẢO TOÀN, KỊ THẤT NGUYỆT SƠ NHẤT NHẬT, BẢN HUYỆN XÃ TRANG TUẾ THỜI PHỤNG TỰ (Tạm dịch: Khi mất được ban tặng Thái bảo Hoằng Quốc công, thụy Bảo Toàn, kị mồng Một tháng Bẩy, Huyện làng xã ta lo cúng tế hàng năm).
Bản số 6- Phả chi họ Nguyễn Hữu ở Mậu Yên, Hà Lai, Hà Trung.
Nội dung chép:
- TỐT TỨ THÁI BẢO HOẰNG QUỐC CÔNG, TỨ THỤY BẢO TOÀN, KỊ THỜI THẤT NGUYỆT SƠ NHẤT NHẬT, BẢN HUYỆN TỔNG XÃ TRANG TUẾ THỜI PHỤNG TỰ (Tạm dịch: Khi mất được ban tặng Thái bảo Hoằng Quốc công, ban tên thụy Bảo Toàn, ngày kị mồng Một tháng Bẩy, Huyện Tổng làng xã ta lo cúng tế hàng năm).
Bản số 7- Phả chi họ Nguyễn Hữu ở Hà Bình, huyện Hà Trung.
Nội dung chép:
- TỐT TỨ THÁI BẢO HOẰNG QUỐC CÔNG, TỨ THỤY BẢO TOÀN, KỊ THỜI THẤT NGUYỆT SƠ NHẤT NHẬT, BẢN HUYỆN XÃ TRANG TUẾ THỜI PHỤNG TỰ (Tạm dịch: Khi mất được ban tặng Thái bảo Hoằng Quốc công, ban tên thụy Bảo Toàn, ngày kị mồng Một tháng Bẩy, Huyện làng xã ta lo cúng tế hàng năm).
Như vậy, cả 7 bản phả cổ của các chi họ con cháu cụ Nguyễn Đức Trung (con trưởng của cụ Nguyễn Công Duẩn) đều thống nhất ngày 01 tháng Bẩy là ngày lễ kị của cụ Nguyễn Công Duẩn và Cụ được huyện, tổng, xã, làng lo cúng tế hàng năm.
Thanh Hóa, ngày 01/8/2023
Hội đồng họ Nguyễn gốc Gia Miêu

TƯỞNG NIỆM 411 NĂM NGÀY MẤTCỦA ĐỨC THÁI TỔ GIA DỤ HOÀNG ĐẾ húy NGUYỄN HOÀNG(3/6 Quý Tị 1613 – 3/6 Giáp Thìn 2024)      T...
08/07/2024

TƯỞNG NIỆM 411 NĂM NGÀY MẤT
CỦA ĐỨC THÁI TỔ GIA DỤ HOÀNG ĐẾ húy NGUYỄN HOÀNG
(3/6 Quý Tị 1613 – 3/6 Giáp Thìn 2024)
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP
Thái tổ Gia dụ Hoàng đế húy Nguyễn Hoàng là con trai thứ hai của đức Triệu tổ Tĩnh hoàng đế húy Nguyễn Kim và Hoàng hậu húy Nguyễn Thị Mai. Ngài sinh ngày 10 tháng 8 năm Ất Dậu (28/8/1525).
Lúc mới hai tuổi, Ngài được đức Triệu tổ gửi Ngài cho em vợ là Nguyễn Ư kỷ nuôi dạy. Ngài được Cậu hết lòng chăm sóc.
Sách “Thực Lục” chép: “Ngài có tướng vai lân, lưng hổ, mắt phượng, trán rộng, thần thái khôi ngô, thông minh tài trí, người thức giả biết là bậc phi thường.”
Năm Ất Tỵ (1545), đức Triệu tổ mất, lúc này Ngài 21 tuổi, được tập phong tước Hạ Khê hầu. Ngài đem quân đánh nhà Mạc, giết được tướng Mạc trở về, được vua Lê khen: “Thực là cha hổ sinh con hổ.”
Đời Lê Trang Tông, Ngài được tấn phong tước Đoan Quận công. Khi Trịnh Kiểm chuyên quyền, ám hại Lãng Quận công Nguyễn Uông, Ngài nghe theo mưu của Cậu là Nguyễn Ư Kỷ, cáo bệnh giữ mình. Hiểu ý câu nói của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” và nghe theo lời khuyên của Cậu, Ngài nhờ chị là Ngọc Bảo xin với Trịnh Kiểm tâu với vua Lê cho Ngài vào trấn thủ đất Thuận Hóa.
Năm Mậu Ngọ (1558), Ngài đem những người đồng hương huyện Tống Sơn và nghĩa dũng xứ Thanh Hoa vào đóng ở xã Ái Tử huyện Vũ Xương (nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Ngài vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nên được dân mến phục, thường xưng tụng là Chúa Tiên.
Năm Canh Ngọ (1570), Ngài dời đô qua làng Trà Bát huyện Vũ Xương. Năm này Ngài được phong làm Tổng trấn Tướng quân kiêm lãnh cả hai xứ Thuận – Quảng.
Năm Nhâm Thân (1572), tướng Mạc là Lập Bạo đem quân vào đánh Thuận Hóa bị Ngài dùng kế giết chết.
Năm Quý Dậu (1573), Vua Lê Thế Tông tấn phong Ngài chức Thái Phó.
Hơn mười năm trấn nhậm với chính sách rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang nên dân được an cư lạc nghiệp. Chợ không có hai giá, không có trộm cướp, đêm ngủ không phải đóng cửa. Thuyền buôn ngoại quốc đến buôn bán đông đúc. Xứ Thuận – Quảng trở thành nơi đô hội lớn.
Năm Quý Tỵ (1593), Ngài đem quân ra Đông Đô yết kiến vua Lê, được vua phong chức Trung quân Đô đốc phủ Tả đô đốc Chưởng phủ sự Thái úy Đoan Quốc công. Ngài ở Đông Đô 8 năm, thường đem quân đi đánh dẹp tàn quân nhà Mạc, đánh đâu thắng đó.
Năm Ất Mùi (1595), Ngài được cử làm Đề diệu khoa thi Tiến sĩ.
Năm Kỷ Hợi (1599), vua Lê Kính Tông tấn phong Ngài làm Hữu tướng.
Ngài ở Đông Đô lập nhiều chiến công, Trịnh Tùng không cho Ngài trở về Thận Hóa vì sợ “Thả hổ về rừng”.
Năm Canh Tý (1600), Ngài lập kế đi đánh Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê rồi đem tướng sĩ, binh thuyền theo đường biển trở về Thuận Hóa. Ngài dời dinh sang phía đông dinh Ái Tử gọi là dinh Cát. Muốn chúa Trịnh khỏi nghi ngờ, Ngài để lại người con là Nguyễn Hải và cháu nội là Nguyễn Hắc ở lại làm con tin, về sau lại gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng. Vua Lê và chúa Trịnh sai sứ vào phủ dụ.
Năm Tân Sửu (1601), Ngài cho xây chùa Thiên Mụ.
Năm Nhâm Dần (1602), Ngài si Thế tử Nguyễn Phúc Nguyên làm Trấn thủ dinh Quảng Nam là xứ đất tốt, dân đông, sản vật giàu có để cho Thế tử tập làm chính sự. Ngài cho lập thêm các chùa Long Hưng (Duy Xuyên, Quảng Nam), Bảo Châu (Trà Kiệu, Quảng Nam) và Kính Thiên (Lệ Thủy, Quảng Bình).
Năm Tân Hợi (1611), quân Chiêm xâm lấn bờ cõi, Ngài sai tướng đi đánh dẹp, lấy vùng đất biên giới lập thành phủ Phú Yên.
Năm Quý Sửu (1613), ngày mồng 3 tháng 6 (20/7), Ngài yếu, cho triệu Thế tử và các Thân thần đến trước giường ngự bảo rằng: “Ta với các ông cùng nhau cam khổ đã lâu, muốn dựng nên nghiệp lớn. Nay ta để gánh nặng lại cho con ta, các ông vui lòng giúp đỡ cho nên công nghiệp.” Rồi Ngài dặn Thế tử: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, anh em phải thương yêu nhau. Con mà giữ được lời dặn đó thì ta không ân hận gì.” Ngài lại nói: “ Đất Thuận – Quảng, Bắc có Hoành Sơn và sông Gianh hiểm trở, Nam có núi Hải Vân và núi Thạch Bi bền vững. Núi sẵn vàng, sắt, biển sẵn cá, muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân, luyện binh chống với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không thể địch được thì cố giữ đất đai chờ cơ hội, đừng bỏ qua lời dặn của ta”. Dặn dò xong Ngài băng, ở ngôi 56 năm, thọ 89 tuổi.
Đức Thái tổ Gia dụ Hoàng đế là vị Chúa đầu tiên khai sáng nhà Nguyễn,là người đặt nền tảng cho việc gây dựng cơ nghiệp triều Nguyễn sau này.
Với tổ chức chính sự rộng rãi, có quy củ, sưu thuế nhẹ, quân lệnh nghiêm trang, lấy sự an cư lạc nghiệp của dân làm gốc, Ngài đã mở đầu cho sự phát triển nửa nước trù phú về phía Nam của dân tộc Việt. Dưới thời Ngài, biên giới đất nước đã đến tận Phú Yên.
LĂNG MIẾU THỜ VÀ CÁC TƯỚC HIỆU ĐƯỢC TRUY TÔN
Ngài mất, lúc đầu táng ở núi Thạch Hãn thuộc huyện Hải Lăng, Quảng Trị, sau cải táng về núi La Khê, Hương Trà, Thừa Thiên. Vua Gia Long đặt tên lăng là Trường Cơ, vua Minh Mệnh đổi tên núi La Khê là Khải Vận sơn.
Ở quê hương Gia Miêu, Ngài được thờ trong nhà thờ của dòng họ Nguyễn, sau này được tôn là Tôn Miếu của Dòng họ Nguyễn công tính chính chi Gia Miêu.
Năm Quý Hợi (1803), vua Gia Long cho dựng Nguyên Miếu ở làng Gia Miêu để thờ Ngài cùng đức Triệu tổ.
Năm Giáp Tý (1804), vua Gia Long cho dựng Thái Miếu gồm 13 gian 2 chái ở phía trước Triệu Miếu để thờ các Chúa và các Công thần đời trước. Ngài và Hoàng hậu được thờ ở án chính giữa.
Khi mất, Ngài được vua Lê truy tặng là Cẩn Nghĩa công, thụy là Cung Ý.
Chúa Sãi truy tôn Ngài là “Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ Vương”.
Đời Vũ Vương, Ngài được truy tôn “Liệt Tổ Triệu Cơ Thùy Thống Khâm Minh Cung Ý Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ Thái Vương”.
Vua Gia Long truy tôn Ngài là “Triệu Cơ Thùy Thống Khâm Minh Cung Ý Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ Hoàng Đế”, miếu hiệu là Thái Tổ.
GIA ĐÌNH
Hậu và Phi
Theo số lượng Hoàng tử và Hoàng nữ và theo một vài gia phả khác, Ngài có Hoàng hậu và 2 vị phu nhân. Danh tính và tiểu sử 2 vị phu nhân không rõ.
Thái tổ Gia dụ Hoàng hậu.
Đức Bà họ Nguyễn, tiểu sử không rõ.
Đức Bà mất ngày 16 tháng 5 âm lịch. Lăng táng tại làng Hải Cát, Hương Trà, Thừa Thiên. Năm Giáp Tý (1744), Vũ Vương truy tôn: “Từ Quang Lương Thục Ý Phi”, sau thêm hai chữ “Minh Đức”. Năm Bính Dần (1806), vua Gia Long truy tôn: “Từ Quang Lương Thục Minh Đức Ý Cung Gia Dụ Hoàng Hậu”. Đức bà được phối thờ với đức Thái Tổ ở Thái Miếu. Tên lăng là Vĩnh Cơ.
Đức Bà sinh được một người con là Nguyễn Phúc Nguyên (Hy Tông Hoàng Đế).
Hoàng tử và Hoàng nữ
Đức Thái tổ có 10 Hoàng tử và 2 Hoàng nữ.
Hoàng tử Hoàng nữ
1. Nguyễn Hà 1. Nguyễn Phúc Ngọc Tiên
2. Nguyễn Hán 2. Nguyễn Phúc Ngọc Tú
3. Nguyễn Thành
4. Nguyễn Diễn
5. Nguyễn Hải
6. Nguyễn Phúc Nguyên
7. Nguyễn Phúc Hiệp
8. Nguyễn Phúc Trạch
9. Nguyễn Phúc Dương
10. Nguyễn Phúc Khê
( Nguồn: Họ Nguyễn Gốc Gia Miêu)

DANH SÁCH CÁC ĐỊA PHƯƠNG BỊ MẤT CẮP SẮC PHONG     (Danh sách được lập trên các thông tin của cộng đồng, còn thiếu ở đâu ...
25/06/2024

DANH SÁCH CÁC ĐỊA PHƯƠNG BỊ MẤT CẮP SẮC PHONG
(Danh sách được lập trên các thông tin của cộng đồng, còn thiếu ở đâu xin mọi người bổ sung thêm)

1. Thôn Cự Đình xã Việt Hưng huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên mất khoảng 18 đạo năm 1998.
2. Thôn Mỹ lâm, xã Hòa lâm, huyện ứng Hòa, Hà Nội, mất 6 đạo sắc phong năm 2005.
3. Làng Quảng Minh, huyện Thanh Oai, Hà Nội, mất 6 đạo sắc phong, thời gian mất khoảng năm 2003 - 2006.
4. Đình làng Khê Khẩu, Bình Chính, Kim Bảng, Hà Nam, mất 11sắc năm 2009, hiện nay mới có được thông tin của 2 sắc.
5. Thôn Cầu Bầu xã Quảng Phú Cầu huyện Ứng Hòa, Hà Nội, mất 2 sắc phong 5 năm 2019.
6. Đình Thôn Tiền, Tam Thanh, Vụ Bản, Nam Định. Mất năm 2014.
7. Đình làng Thanh Lãm, quận Hà Đông, TP Hà Nội, năm 1996 mất 17 đạo, năm 2020 và 2022 được nhận lại 3 đạo .
8. Thôn Thượng Phúc, xã Thụy Sơn, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình mất 11 đạo sắc phong năm 2017
9. Làng My Dương, xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai, Hà Nội, mất 8 đạo năm 2001.
10. Đình Xám, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, mất 21 đạo sắc.
11. Đình thôn Đồng Hạ , xã Đức Hợp, h. kim Động, tỉnh Hưng Yên, bị kẻ gian trộm cắp 9 sắc phong.
12. Làng Hòa Ung(có lúc là Thì Ung) và làng Ngọc lôi tổng Bất Bế huyện Vĩnh Lại phủ Ninh Giang tỉnh Hải Dương mất 28 sắc phong của vị nữ thần Nguyệt Quỳnh công chúa.
13. Đình làng thôn Ân Phú, tổng Xuân Vân, huyện Phúc Thọ, Tỉnh Sơn Tây mất 13 đạo sắc phong mất năm 2005 đã thấy 1 đạo. Có 3 đạo sắc phong tên xã là Tang Lục, 10 đạo sắc tên xã là Ân Phú.
14. Thôn cầu xã Tuy Lai huyện Mỹ Đức Hà Nội và đền Vân Mộng xã Tuy Lai, huyện Mỹ Đức, Hà Nội
15. Làng Lê Dương, huyện Thanh Oai, Hà Nội mất 5 đạo sắc phong.
16. Làng Thuần Lương, xã Hoàng Văn Thụ, Chương Mỹ, Hà Nội. Mất 9 đạo vào tháng 11 âm lịch năm 2021.
17. Làng Nộn Khê , xã Yên Từ, huyện Yên Mô, Tỉnh Ninh Bình. Mất 31 đạo. Mất cách đây gần 20 năm. Hiện tại mới có thông tin được 1 đạo nhưng chưa hồi hương.
18. Đền Hương Đường - Xã Việt Hùng - Huyện Vũ Thư - Tỉnh Thái Bình - Mất cách đây khoảng 30 trước 5 sắc chưa tìm thấy.
19. Đình Lễ Khê Hạ, xã Hồng Phong, huyện Chương Mỹ mất 01 đạo Chiêu Thống, 4 đạo Nguyễn và thần tích năm 2004, hiện chưa thấy
20. Đình Đại Phẩm, xã Đại Yên, Chương Mỹ, Hà Nội, năm 1986 mất 24 đạo đời Lê, năm 2021 tìm đc 1 đạo Phúc Thái, năm 2/2023 tìm đc 01 đạo khải định 9.
21. Sắc phong dòng họ Trần ở xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Mất cách đây khoảng 25 năm đến 30 năm.
22. Làng Nguyên Xá, xã Trung Hoà, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Mất 6 đạo sắc phong.
23. Làng Bản Thiện, xã Dân Lý, Triệu Sơn, Thanh hóa mất 3 đạo.
24. Đền Quốc Tế, xã Dị Nậu, huyện Tam Nông, Phú Thọ mất 40 đạo năm 2021. Một số đạo đã có thông tin đang bán bên Trung Quốc.
25. Thôn Đoan Vỹ, xã Thanh Hải, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam (địa danh ghi trên sắc: Hà Nội tỉnh, Thanh Liêm huyện), bị ăn cắp 4 sắc dương thần, 1 sắc âm thần, sắc triều nguyễn.
26. Làng Lương Cầu, huyện Phụ Dực, Thái Bình mất 8 đạo năm 1996, do gửi cán bộ khi làm di tích
27. Làng Thượng Hòa tổng Thanh Quyết ,Gia Viễn, Ninh Bình mất 28 đạo.
28. Xã Xuy Xá, huyện Mỹ Đức năm 2020 mất 15 đạo sắc, 1 quyển thần phả bằng đồng và nhiều sách cổ ghi thần tích thần phả.
29. Đình Hạ Xá, xã Tân Khánh, Vụ Bản, Nam Định mất 16 đạo sắc phong năm 2020
30. Đình Nhị Thôn xã Tân Khánh, Vụ Bản, Nam Định mất 10 đạo sắc phong năm 2020
31. Đình Hồng Thái, huyện Chương Mỹ, Hà Nội, mất 7 đạo sắc phong năm 2020.
32. Đình Phú Mỹ, Nam Từ Liêm, Hà Nội mất 22 đạo sắc phong.
33. Thôn Giang, xã Viên Nội huyện Ứng Hoà, Hà Nội. Mất 12 đạo sắc phong thờ Lý Nam Đế. Mất khoảng 2005-2006.
34. Làng Viên Ngoại, xã Viên An, huyện Ưng Hoà, Hà Nội mất 18 đạo sắc phong vào tháng 7/2020.
35. Làng Khánh Sơn, tổng Phước Tường Thượng, huyện Hoà Vang, phủ Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam, mất 6 sắc phong năm 1978.
36. Thôn Khánh Sơn, tổng Phước Tường Thượng, huyện Hoà Vang, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Năm 1978 mất 1 đạo sắc phong thời vua Minh Mạng.
37. Địa danh trên sắc Hà Nam tỉnh, Bình Lục huyện, phù Tải xã, Đông thôn. Mất 6 đạo năm 2021.
38. Làng La Cầu, xã Yên Dương, tổng Bồ Xá, phủ Lị Nhân, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam(có thời kỳ thuộc tỉnh Hà Nội),nay là xóm La Cầu,thôn Tân An,thị trấn Bình Mỹ,huyện Bình Lục,tỉnh Hà Nam mất 11 đạo sắc phong.
38. Làng Hữu Bằng, huyện Thạch Thất , Hà Nội mất 25 đạo năm 2021.
39. Làng Hát Môn xã Hát Môn- huyện Phúc Thọ, tp Hà Nội. Đền Hát Môn thờ Hai Bà Trưng, mất 22 đạo năm 2002, đã tìm thấy 3 đạo
Nguồn Facebook: Nguyễn Phong

TƯỞNG NIỆM 479 NĂM NGÀY MẤTCỦA ĐỨC TỔ TRIỆU TỔ TĨNH HOÀNG ĐẾ huý NGUYỄN KIM(20/5 Ất Tỵ 1545 – 20/5 Giáp Thìn 2024)     ...
24/06/2024

TƯỞNG NIỆM 479 NĂM NGÀY MẤT
CỦA ĐỨC TỔ TRIỆU TỔ TĨNH HOÀNG ĐẾ huý NGUYỄN KIM
(20/5 Ất Tỵ 1545 – 20/5 Giáp Thìn 2024)
THÂN THẾ VÀ CÔNG NGHIỆP
Triệu tổ Tĩnh hoàng đế húy Nguyễn Kim (1468 - 1545) được sinh ra trong một Danh gia vọng tộc ở đất Quý hương Gia Miêu ngoại trang, tổng Thượng Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung.
Ông nội của Ngài là Thái bảo Phó quốc công Nguyễn Như Trác. Thân phụ Ngài là Đà giang Kinh lược sứ Thái tể Trừng quốc công Nguyễn Lưu, thân mẫu họ Mai.
Ngài và em trai là Lý Nhân công Nguyễn Tông Thái sinh ra và lớn lên ở quê Gia Miêu, thiếu thời đã nổi tiếng tài kiêm văn võ, được tập ấm vào triều giữ việc binh.
Triều Lê Chiêu Tông (1516 – 1524), Ngài được phong chức Tả vệ Điện tiền tướng quân, tước An Tĩnh hầu, trông coi tỉnh Thanh Hóa.
Năm Đinh Hợi (1527), khi Mạc Đăng Dung tiếm ngôi nhà Lê, Ngài đem thuộc hạ lánh sang nước Ai Lao mưu việc khôi phục, lúc đó Ngài đã 59 tuổi. Ngài chiêu tập những người trung dũng, gửi con nhỏ Nguyễn Hoàng mới 2 tuổi cho em vợ là Nguyễn Ư Kỷ nuôi dạy để mình tiện lo việc lớn.
Năm Kỷ Sửu (1529), Ngài đem quân về Thanh Hóa đánh nhà Mạc, thắng trận liên tiếp.
Năm Canh Dần (1530), quân sĩ bị tổn thất, Ngài phải tạm lui về Ai Lao chỉnh đốn lại binh mã.
Năm Quý Tỵ (1533), Ngài cùng các tướng dò tìm được Lê Ninh 18 tuổi (con của vua Lê Chiêu Tông) lập lên ngôi vua, là vua Lê Trang Tông. Từ đó hào kiệt theo về càng đông. Ngài được vua Lê phong chức Thượng phụ Thái sư Hưng Quốc côngChưởng nội ngoại sự.
Năm Quý Mão (1543), vua Lê tiến quân từ thành Tây Đô, Thanh Hóa ra Bắc, sai người mang chiếu thư sang Ai Lao gọi Ngài về. Vua gia phong Ngài làm Thái tể Đô tướng Tiết chế tướng sĩ chư dinh thủy bộ. Ngài tiến quân đến đâu thắng đến đấy.
Giáp Thìn (1544), Ngài cả phá ngụy tướng Tây Quốc công Nguyễn Kính ở Yên Mô, rồi chia quân trấn giữ những nơi xung yếu. Ngụy Mạc lấn Đông Sơn (Thanh Hóa) bị Ngài đánh tan chém hơn nghìn thủ cấp.
Tháng tư Ất Tỵ (1545), Ngài tiến quân ra Điềm Giang (Hoàng Long, Gia Viễn) đánh tan ngụy tướng Phụng Quốc công Lê Bá Ly. Ngài muốn tiến đánh Đông Đô, nhưng gặp lụt phải quay về đóng dinh ở Yên Mô. Hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất dâng quả dưa có thuốc độc để hại Ngài.
Ngài mất ngày 20 tháng 5 năm Ất Tỵ (28/6/1545), thọ 78 tuổi.
Được tin Ngài mất, vua Lê vô cùng thương xót, truy tặng Ngài tước Chiêu Huân Tĩnh Công, ban thụy là Trung Hiếu. Linh cữu Ngài được đưa về Bái Trang, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa, táng tại núi Thiên Tôn. Khi táng, bất chợt trời nổi sấm chớp dông bão mù mịt, ai cũng sợ hãi bỏ chạy. Lúc trời tạnh trở lại thì đá núi, cỏ cây tươi tốt, không rõ huyệt táng ở nơi nào nữa.
Năm Giáp Ngọ (1594), vua Lê Thế Tông truy tặng Ngài là: Chiêu Huân Phụ Triết Tĩnh Công.
Đời Tiên Vương (Chúa Tiên), Ngài được suy tôn: “Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vỹ Tích Chiêu Huân Tĩnh Vương”.
Đời Vũ Vương, Ngài được suy tôn: “Di Mưu Thùy Du Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vỹ Tích Chiêu Huân Tĩnh Vương”.
Năm Bính Dần (1806), vua Gia Long suy tôn Ngài: “Di Mưu Thùy Du Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh Hoàng Đế”. Miếu hiệu là Triệu Tổ.
CÁC NƠI THỜ TỰ:
- Sau khi mất, Ngài được phối thờ cùng với Ông nội là Phó Quốc công Nguyễn Như Trác và Thân phụ là Trừng quốc công Nguyễn Lưu ở nhà thờ họ Nguyễn - Gia Miêu, sau này là Tôn Miếu của dòng họ Nguyễn công tính chính chi Gia Miêu.
- Năm Quý Hợi (1803), vua Gia Long cho dựng Nguyên Miếu gồm ba gian hai chái ở phía Đông núi Thiên Tôn gọi là miếu Triệu Tường để thờ Ngài.
- Năm Giáp Tý (1804), Vua Gia Long cho dựng Triệu Miếu trong Hoàng thành để thờ Ngài.
- Năm Mậu Thìn (!808), vua Gia Long đặt tên Lăng của Ngài là lăng Trường Nguyên. Vì lăng không có dấu tích nên Vua cho xây một nền vuông dưới chân núi, gọi là Phương cơ để làm chỗ bái yết.
- Năm Tân Tỵ (1821), vua Minh Mệnh đổi tên núi Thiên Tôn thành núi Triệu Tường. Năm 1822, vua cho dựng bia ở lăng Trường Nguyên, làm bài minh để ca ngợi công nghiệp của đức Triệu tổ. Bài minh như sau:
“Đất lớn chứa thiêng, sinh ra Triệu Tổ.
Vun đắp cương thường, nêu rạng Thánh Võ.
Nghĩa động quỷ thần, công truyền vũ trụ.
Cõi trần rời bỏ, lăng ở Bái Trang.
Non nước bao bọc, sầm uất tùng xanh.
Khí thiêng nhóm họp, đời đời xương vinh.
Mệnh trời đã giúp, con cháu tinh anh.
Võ công dựng nước, bèn tìm gốc nguồn.
Truy tôn dựng miếu, lăng gọi Trường Nguyên.
Tân Tỵ, Bắc tuần, đến đây dựng lại.
Trông ngắm non sông, nhớ đến gốc cõi.
Khắc chữ vào bia, lưu ức vạn tải.
GIA ĐÌNH
Ngài có 2 phu nhân, sinh 2 con trai và 1 con gái.
1- Triệu tổ Tĩnh hoàng hậu Nguyễn Thị Mai, con gái của Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thự vệ sự Nguyễn Minh Biện quê ở Phạm Xá, Hải Dương. Hoàng hậu là người thuần hậu, đức hạnh vẹn toàn, mất ngày 23 tháng Giêng, tên thụy là “Từ Tín”, được hợp táng với Triệu tổ trên núi Thiên Tôn. Sau, vua Gia Long phối thờ Tổ mẫu trong Triệu miếu ở Phú Xuân và đặt tên lăng ở Gia Miêu là lăng Vĩnh Nguyên.
2 - Thứ thất, phu nhân Đỗ Thị Tín quê Đông Biện, Vĩnh Ninh (nay thuộc Vĩnh Tân, Vĩnh Lộc) Thanh Hóa.
Các con:
1- Nguyễn Thị Ngọc Bảo.
2- Nguyễn Uông.
3- Nguyễn Hoàng.
(Bài viết có sử dụng tư liệu của NGUYỄN PHÚC TỘC THẾ PHẢ 1995)

Address


Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tuổi Trẻ Họ Nguyễn Gia Miêu. Banlienlac posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

  • Want your museum to be the top-listed Museum?

Share