Góc nhìn An Nam

Call Directions Website Contact the museum

Góc nhìn An Nam “Cảm nhận mọi thứ, nhìn nhận mọi vật' VĂN HOÁ & LỊCH SỬ

Văn thơ và Công Chúa: LÊ NGỌC HÂN (1770-1799)  Thời Tây Sơn.          Lê Ngọc Hân là con vua Lê Hiển Tông và bà chiêu ng...
22/10/2026

Văn thơ và Công Chúa: LÊ NGỌC HÂN (1770-1799) Thời Tây Sơn.

Lê Ngọc Hân là con vua Lê Hiển Tông và bà chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền.
Bà có nhan sắc, thông minh, lại giỏi thơ văn.

Năm bính ngọ (1786), Nguyễn Huệ ra Bắc phù Lê diệt Trịnh, bà vâng lời vua cha kết duyên với Nguyễn Huệ, sau đó về Thuận Hóa.
Năm mậu thân (1788), Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, hiệu là Quang Trung, bà được phong Hữu cung Hoàng hậu.
Năm kỷ dậu (1789) sau khi chiến thắng quân Thanh, vua Quang Trung lại truy phong bà làm Bắc cung Hoàng Hậu.
Quang Trung rất quí bà đặc biệt săn sóc các người trong họ Lê và gìn giữ lăng miếu nhà Lê
Năm nhâm tí, (1792) Nguyễn Huệ - vua Quang Trung mất, việc này đã làm bà đau đớn khôn cùng và khiến nhà Tây Sơn thiếu người lãnh đạo tài giỏi nên dần đi đến suy yêu và bị Nguyễn Ánh diệt.

Bà đã làm bài “Tế vua Quang Trung” và “Ai tư vãn” để tỏ bày nổi buồn trước cái chết của người chồng anh hùng bách chiến bách thắng. Có nhiều giải thuyết về chết của bà Ngọc Hân nhưng chắc chắn bà mất vào năm kỷ mùi (1799): Phan Huy ích, một vị trung thần của nhà Tây Sơn làm tới năm bài tế viết giúp vua Cảnh Thịnh, các công chúa, bà Nguyễn Thị Huyền (mẹ của chúa Ngọc Hân), các tôn thất nhà Lê và họ ngoại ở làng Phú Ninh… để tế bà năm 1799, các bài tế văn này được chép trong “ Du am văn tạp” của Phan Huy Ích. Theo tác giả “ Thi văn bình chú” thơ văn của bà rất nhiều, nhưng bị mai một hết cả, nay chỉ còn truyền được hai bài: “ Tế vua Quang Trung” và “ Ai Tư Vãn”.

Bài “ Tế vua Quang Trung” là một tác phẩm có giá trị thời Tây Sơn. Đó là những tình cảm chân thành của một người vợ khóc người chồng anh hùng được diễn tả bằng những ngôn từ bóng bảy. Bà Ngọc Hân đã hết sức đau đớn trước cái chết đột ngột của chồng:

- Tơ đứt tấc lòng ly biệt,
Chiêu sa giọt lệ cương thường.

Đau buồn trước thực tại phũ phàn, bà quay về sống dĩ vàng. Bà hồi tưởng lúc kết duyên với nhà vua rồi theo chồng trên nẻo đường quan san ngàn dặm trở về Thuận Hóa:

- Hôn cấu đã nên nghĩa cả,
Quan san bao quản dậm trường.

Từ lúc kết duyên với Nguyễn Huệ - Quang Trung cho đến khi mất, bà đã sống trong hạnh êm đềm, được nhà vua rất mực thương yêu, quí mến:

- Mọi nỗi, mọi nhờ trọn vẹn,
Một điều, một được vẻ vang

Đã thế, vua Quang Trung lại là người biết quan tâm chăm sóc, giữ gìn lăng tẩm và chăm lo hương khói cho nhà Lê:

- Ơn sâu nhuần gọi cỏ cây, chốn lăng tẩm chẳng phạm trù du tử
- Lộc nặng thơm tho hương khói, nơi miếu đường nào khuyết lễ chưng thường.

Vì vậy bà cố gắng làm tròn bổn phận của người vợ và sinh con để nối truyền dòng dõi:

- Phép hằng gìn hạc thược, tước thoa, buồng quế rạng khuôn nội tắc
- Điềm sớm ứng chung tư, Lân chỉ, phái Lam thêm diễn thiên hoàng.

Cái chết bất ngờ của Nguyễn Huệ - Quang Trung làm cho bà tê tái, sống trong cô đơn vắng lạnh:

- Gió lạnh buồn đào, rơi cầm nẩy sắt
- Sương pha cung đỏ, hoen phấn mờ gương.

Thời gian hạnh phúc trôi qua mau, giờ đây lòng bà nặng trĩu những lo lắng buồn đau:

- Vấn vít bấy, bảy năm kết phát
- đau đớn thay, trăm nỗi đoạn trường.

Vì nhớ thương quá độ, bà muốn chết theo chồng, theo nhà vua, nhưng đàn con còn nhỏ dại không người chăm sóc, nên bà tạm sống nuôi con:

- Liều trâm thoa mong theo chốn chân du, da tóc trăm thân nào có tiếc!
- Ôm cưỡng - bảo luống ngập ngừng di thể, sữa măng đôi chút lại thêm thương.

Về hình thướng điêu luyện. Lời lẽ thắm thiết, êm xuôi hơn các bài tế của Phan Huy Ích. Tác giả lại dùng điển tích, nếu có dùng cũng khéo léo, nhẹ nhàng:

- Ngày thoi thấm thoắt, bóng khích vội vàng!

Điều đáng chú ý là các bài văn tế trong thời Tây Sơn thường rất ngắn so các bài văn tế thời Nhà Nguyễn. Tác phẩm “ Ai Tư Vãn” là tác phẩm chính của bà : Lê Ngọc Hân, gồm 164 câu song thất lục bát. Mở đầu tác phẩm, bà Ngọc Hân đã bày tỏ sự nhớ thương khôn nguôi sau khi chống, vua Quang Trung mất:
- Sầu sầu thảm thảm xiết bao
Rõ ràng vẻ thúy, thảm cao ngất trời

Quay về những hoài niệm, bà ôn lại cuộc sống đẹp đẽ với vua Quang Trung:

- Sang yêu muôn đợi ơn trên,
Rõ ràng vẻ thúy, nối chen tiếng cầm.

Bà sinh được mấy người con lại được vua Quang Trung yêu quí, nên hạnh phúc càng thấm thiết:

- Miếu đường còn dấu chưng thường
Tùng thu còn rậm mấy hàng xanh xanh

Bà nhớ lại sự nghiệp của Quang Trung, một người anh hùng áo vải suốt đời hy sinh cho dân, cho nước:

- Mà nay áo vải cơ đào
Giúp dân dựng nước biết bao công trình


Tác phầm “ Ai Tư Vã” làm theo thể sông thất lục bát, một văn tế rất thịnh thời Lê Mạc - Tây Sơn. Lời lẽ bóng bảy, diễm lệ, nhưng ý tưởng tỏ ra thành thực. Trong bài có nhiều câu thật khéo, tài tình. Chỉ cần bốn câu thơ, Lê Ngọc Hân đã kể rõ việc anh hùng Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc phù Lê diệt Trịnh, rồi kết duyên với bà.

- Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc
Nghĩa tôn phù vẳng vặc bóng dương
Se dây vâng mệnh phụ hoàng
Thuyền lan, chèo quế thuận đường vu qui

Điều này chứng tỏ Lê Ngọc Hân chịu ảnh hưởng chinh- phụ ngâm, chắc bà cũng được đọc bản chính phụ ngâm làm trong thời Lê Mạc, phải chăng bản đó của Đoàn Thị Điểm, không phải bản của Phan Huy Ích làm vào đầu Nhà Nguyễn. Trong văn thi học Việt Nam có nhiều vài thơ văn khóc chồng, nhưng hai tác phẩm tình ý cảm động tha thiết, làm lung động lòng người là “ Ai Tư Vãn” của Lê Ngọc Hân và “ Giọt Lệ Thu ” của Tương Phố.



P/s: Nếu anh chị em nào muốn đọc 2 bài văn: " Tế Vua Quang Trung" và "Ai Tư Vãn" của Công Chúa Lê Ngọc Hân, Ad sẽ viết đăng thêm để phục vụ mọi người.

cứngChuyện của SơnGóc nhìn An NamNguyễn Thái Sơn

21/10/2026

🇰🇵 Truyền hình Triều Tiên thông báo trong một tuyên bố chính thức, với nỗi buồn sâu sắc, rằng Lãnh tụ Tối cao Kim Jong Un đã bị xuất huyết não và rơi vào trạng thái hôn mê. Hiện ông đang được điều trị tại Trung tâm Khoa học Y tế Đại học Bắc Kinh ở Trung Quốc.

cứng

TRƯỜNG CA DÂN TỘC.______________   Lịch sử không chỉ là những dòng chữ khô khan. Mà là máu, là nước mắt, là tiếng cồng c...
20/10/2026

TRƯỜNG CA DÂN TỘC.
______________
Lịch sử không chỉ là những dòng chữ khô khan. Mà là máu, là nước mắt, là tiếng cồng chiêng, là ánh điện và đèn dầu. Là những gì dân tộc đã đi qua và đang tiếp tục viết.

1. Khai Thiên Lập Quốc:

Kinh Dương Vương mở cõi, Xích Quỷ tiếp đến Hồng Bàng
Hồ Động Đình ranh giới, Dương Tử đề tên Bách Việt
Nối dòng Sùng Lãm lên ngôi, Văn Lang truyền đời con Lạc
Sánh duyên Âu Cơ thần nữ, gấm vóc kế tự cháu Hồng
Một mẹ đặng trăm con, khởi nguyên phân chia Nam Bắc
Mỗi Châu coi các quận, bắt nguồn quản hạt Đông Tây.

Hùng Vương lập quốc, mười tám đời Lang Mị trường ca
Lúa nước khai sinh, mấy ngàn năm Đông Sơn còn vọng
Sơn Tinh thắng Thủy Tinh, thần thoại hóa thành sử Việt
Ân Thương thua Thánh Gióng, truyền thuyết lưu dấu tổ tiên.

Mở nước khai kênh, đồng tâm kết tình dân tộc
Khai phường lập ấp, bản làng hòa tiếng cồng chiêng
Tín ngưỡng dân gian, hồn thiêng bất diệt
Giữ gìn dân tộc, văn hóa trường tồn.

2. Âu Lạc Trấn Giữ Loa Thành:

Thục Phán xây thành, Cổ Loa vang danh một cõi
Triệu Đà mưu kế, nỏ thần giữ vững cơ đồ.
Mỵ Châu tim thắt, giặc tràn sang tan mộng nước non
Trọng Thủy lệ nhòa, biển vùi lấp xác thân nương tử.

Nỏ thần chế tạo, giữ nước bằng trí và tâm
Giặc Bắc xông vào, xâm lăng bằng mưu với lực
Loa thành ba vòng, kỹ thuật vượt thời văn minh
Bí mật thất truyền, vận nước chìm trong oan nghiệt.

Tình cha con đứt, oán cừu gửi lại nước mây
Nghĩa vợ chồng lìa, đớn đau khắc ghi bia miệng
Âu Lạc suy tàn, mở đầu ngàn năm Bắc thuộc
Nhân dân thống thiết, chịu cảnh mấy lũ Tàu gông.

3. Vạn Xuân Độc Lập:

Lý Nam Đế dựng nước, Vạn Xuân rạng ánh tự do,
Triệu Quang Phục giữ thành, đầm Dạ Trạch cũng nên chiến lũy
Ẩn mình trong cỏ, đánh giặc trí dũng ngoan cường
Giữ vững non sông, chống Lương mưu cơ xâm lược.

Vạn Xuân độc lập, lần đầu thoát ách Bắc đô
Chính sử ghi danh, hào khí lưu truyền Nam quốc
Lý Thiên Bảo kế nghiệp, dòng họ tiếp nối chí trai,
Triệu Việt Vương kháng chiến, giữ nước cầm bằng mưu dũng.

Chiến thuật bất ngờ, đêm phục kích ngày ẩn thân
Tướng sĩ đồng lòng, dân giữ làng binh đánh trận
Dù ngắn ngủi thôi, Vạn Xuân vẫn là quốc hiệu,
Dấu còn non yếu, dân tộc khẳng định chủ quyền.

4. Đại Phá Nam Hán - Cờ Lau Dẹp Loạn:

Ngô Quyền phá giặc, Bạch Đằng vùi lấp xác thù
Xương Văn kế nghiệp, đất nước chia đôi lẫn nữa
Sứ quân nổi dậy, cát cứ trấn thủ khắp miền
Bộ Lĩnh dẹp loàn, cờ lau xưng ngôi vương đế.

Dương Hoàng Hậu trao ấn, chọn người giữ nước cứu dân
Lê Đại Hành lên ngôi, đánh Chiêm đòi biên lấn cõi
Lê Hoàn trí dũng, ngoại giao vững bền phương Bắc
Pháp độ nghiêm minh, lòng dân thuận thảo triều trung.

Ngô Nhật Khánh phản loàn, vận nước thêm lần chao đảo
Lê Trung Tông yểu mệnh, Long Đĩnh lên biểu ngọa triều
Nay triều đình rối loạn nhân tâm
Dẫu Tiền Lê trước kia vững mạnh.

5. Lý Triều - Văn Hiến Thăng Long:

Lý Thái Tổ dời đô, Thăng Long rồng bay hội tụ
Lý Nhân Tông trị nước, văn hiến rạng rỡ vang xa
Lý Thường Kiệt đánh Tống, sông Như Nguyệt thơ ca
Bài “Nam quốc sơn hà”, bản tuyên ngôn dân tộc.

Lý Công Uẩn nhân hậu, mở khoa thi chọn lắm hiền tài
Lý Chiêu Hoàng nữ đế, đã kết thúc tám đời họ Lý
Phật giáo thịnh trị, chùa chiền khắp chốn nở hoa
Luật pháp nghiêm minh, xã hội an hòa thịnh vượng.

Lý Đạo Thành trung liệt, giữ vững triều đình chính trực
Tô Hiến Thành thanh liêm, chọn người kế nghiệp thông minh
Lý triều kết thúc, mở đầu hào khí Đông A
Trần tộc lên thay, tiếp nối tinh thần Phật học.

6. Đông A Đại Việt:

Thái Tông khai nghiệp, giữ vững giang sơn Đại Việt
Nhân Tông hòa hiếu, tu hành hóa Phật giữa đời
Hưng Đạo Vương thần uy, Nguyên Mông ba lượt tan tành
Phạm Ngũ Lão trung liệt, văn võ song toàn khí phách
Yết Kiêu lặn biển, Dã Tượng cưỡi voi
Quang Khải thủ thành, Nhật Duật tấn chiến
Dù da ngựa bộc thây, tâm vẫn không chùn bước
Mặc thân phơi nội cỏ, chí bền vững kiên gan
Hịch tướng sĩ vang vọng, lòng dân một dạ sắt son
Bạch Đằng giang rực sáng, xác giặc chất đầy sông nước.

Trần Ích Tắc phản quốc, bị lưu danh sách sử muôn đời
Trần Bình Trọng tuẫn tiết, “thà làm quỷ nước Nam” hiển hách
Thái thượng hoàng xuất tiến, vua tôi đồng lòng giữ nước
Chí Đông A rạng ngời, sử xanh ghi tạc muôn thu.

7. Nhà Hồ Thất Thủ - Lam Sơn Khởi Nghĩa:

Hồ Quý Ly cải cách, chữ Nôm thay thế Hán văn
Nhà Minh xâm lược, nước Nam vào tay Bắc quốc
Lê Lợi khởi binh mượn núi Lam Sơn dấy nghĩa
Nguyên Hãn phục hận đem nước Đông Hải rửa thù
Đinh Liệt tài ba, Chi Lăng ải Liễu Thăng bỏ mạng
Ức Trai mưu lược, Bình Ngô cáo Đại Việt lừng danh.

Cải cách tiền tệ, giáo dục mở rộng dân quyền
Chính sự quá gấp, lòng nhân còn chưa kịp thuận
Thành Tây Đô vững chắc, nhưng vận nước có lẽ không còn
Lũ giặc Minh tràn sang, nên nhà Hồ tức thì sụp đổ
Lành thay Lam Sơn, phất cao cờ phục quốc
Nhờ phước Triệu Trưng, giục chiêng trống trả hờn.

8. Lê Sơ Thịnh Trị:

Lê Thánh Tông trị quốc, Hồng Đức pháp luật công minh
Văn hiến rạng ngời, nhân sĩ tài hoa quân tử
Phạm Văn Xảo, Lê Nhân Chú tiền hiền khai quốc công thần
Lương Thế Vinh, Chu Văn An ngọn đuốc văn nhân học sĩ.

Biên cương mở rộng, đất nước vững vàng thế trận
Giáo dục thăng hoa, sĩ tử đua tranh bảng vàng
Lê Nghi Dân đoạt ngôi, vận nước rối ren mấy bận
Lê Nhân Tông phục vị, triều đình ổn định liền ngay.

9. Trịnh - Nguyễn Tranh Hùng:

Trịnh Nguyễn chia cắt, Trong Ngoài bỗng chốc phân ly
Chiến loạn triền miên, dân tình trở nên khổ lụy
Khoa Đăng, Hữu Dật tài năng giữ gìn cương thổ
Trịnh Doanh, Trịnh Sâm quyền lực xa cách lòng dân.

Nguyễn Hoàng mở cõi, dâng chiếu khai phá phương Nam
Chúa Trịnh trấn miền, văn hóa phát dương phía Bắc
Chiến tranh dai dẳng, đất nước tang thương vận mệnh
Dân tộc lầm than, huynh đệ khốc liệt tương tàn.

10. Trào Tây Sơn Và Gia Long Định Quốc:

Nguyễn Huệ dũng khí, Đống Đa tan xác quân Thanh
Gia Long mưu lược, vượt biển làm nên nghiệp đế
Quang Trung cải cách, giáo dục mở rộng quyền dân
Nguyễn Ánh ngoại giao, đồng minh phương Tây giữ nước.

Trần Quang Diệu lẫm liệt, giữ thành kiên cường bất khuất
Nguyễn Văn Thành tài năng, vị quốc vững vàng trung can
Bùi Thị Xuân oai hùng, nữ tướng tung hoành trận mạc
Lê Văn Duyệt cương trực, trấn thủ một góc phương Nam.

Một bên thần tốc, đánh giặc quyết lòng mở mang thành lũy
Một bên bền chí, vượt biển gìn tâm lấy lại cơ đồ
Tây Sơn nổi dậy, vì dân tộc trấn thành Bình Định
Nhà Nguyễn phục hưng, chí hoàng gia lấy lại Phú Xuân
Ký sử ghi chép nhạt nhòa, Quang Trung - Nguyễn Ánh, đâu chánh đâu tà?
Cháu con học hành không rõ, Nguyễn Huệ - Gia Long, ai công ai tội?

11. Nhà Nguyễn - Từ Hưng Thịnh đến Suy Tàn:

Gia Long lập triều, đổi tên nước rõ ràng quốc hiệu Việt Nam
Minh Mạng mở cõi, sửa luật pháp nghiêm minh pháp quy Hồi Tỵ
Thiệu Trị giữ đạo, trọng lễ nghĩa giữ bền chính sách
Tự Đức yêu văn, nhưng bảo thủ làm yếu nước nhà.

Tri Phương giữ thành, hy sinh xả thân vì nước
Hoàng Diệu tuẫn tiết, Hà Nội rơi lệ tang thương
Cần Vương nổi dậy, Văn Thân khắp nơi chống giặc
Yên Thế khởi binh, Hương Khê vùng lên giữ làng.

Pháp quốc xâm lăng từng bước, Đà Nẵng rồi đến Bắc kỳ
Triều đình lặng lẽ im hơi, vận nước chìm trong bóng tối
Tôn Thất Thuyết kháng chiến, đưa vua trú ẩn sơn phòng
Nguyễn Lộ Trạch viết văn, gọi dân vùng lên đánh trận.

12. Cận Đại Và Hai Dòng Tư Tưởng:

Phan Bội Châu Đông Du, tìm đường cứu nước nơi Nhật Bổn
Phan Chu Trinh dân quyền, khai sáng trí thức tại Việt Nam
Một bên canh tân bằng bạo lực
Một bên cải cách bởi ôn hòa
Hai dòng tư tưởng
Chỉ vì dân tộc.

Đông Kinh Nghĩa Thục mở trường, khai dân trí khắp miền
Phong trào Duy Tân vận động, thức tỉnh lòng dân cả nước.

13. Hai Thể Chế Một Dân Tộc:

Miền Bắc dựng nền, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khai quốc
Phương Nam lập thể, Việt Nam Cộng Hòa giữ vững giang san
Một bên xã hội chủ nghĩa, lý tưởng cách mạng làm đầu
Một bên dân chủ tự do, hiến pháp tam quyền phân lập.

Chiến tranh kéo dài, hai miền một dòng Bắc Hải
Dân tộc mỏi mòn, từ ngày hai phía Hiền Lương
Không bên thắng trận, chỉ có dân tộc đau thương
Không bên thua cuộc, chỉ còn lòng người quặn thắt.

14. Sài Gòn và Miền Bắc Bấy Giờ:

Sài Gòn rực rỡ, Hòn Ngọc Viễn Đông sáng rực phố phường
Miền Bắc đói nghèo, hậu quả chiến tranh hoang tàn thôn xóm
Phố thị phồn hoa xe hơi chen chúc đường dài
Ruộng đồng xơ xác, trâu cày lội bùn giữa lúa.

Thương cảng sầm uất, tàu bè tấp nập khắp nơi
Kho thóc cạn dần, tem phiếu chia phần từng bữa
Trường học mở rộng, sách vở phương Tây truyền bá
Lớp học tranh tre, bảng đen phấn trắng bụi mờ.

Văn hóa giao thoa, điện ảnh, ca nhạc râm rang cuối đường
Văn nghệ tuyên truyền, phát thanh, khẩu hiệu vang vang đầu ngõ
Cà phê, vũ hội, áo dài thướt tha mỗi bữa
Khoai sắn thay cơm, quầy vá chắp nối từng ngày.

Từ Paris phương Đông, ánh hào quang lan khắp Á châu
Đến vùng đất đỏ, tiếng cuốc xẻng vang trong chiều gió
Một bên đô hội, ngày đêm đèn điện sáng choang
Một bên thôn dã, sớm hôm đèn dầu leo lét.

15. Kết - Dòng Máu Việt:

Lịch sử không chỉ là chiến công, còn đó vết thương chưa lành
Dân tộc không chỉ ngoài hào khí, vẫn đây những lần gục ngã
Có hùng anh được dựng tượng, có tướng sĩ chưa thể gọi tên
Có triều đại được vinh danh, có thời kỳ chìm trong quên lãng.

Đôi lúc ghi công, đôi khi khắc tội
Vài nơi lên án, vài chỗ phụng thờ
Nhưng tất cả là máu thịt đất này
Dù đúng sai đều con dân nước Việt.

Lịch sử không để chọn phe, mà còn soi chiếu
Quá khứ đừng ghì oán hận, còn để noi gương
Nếu cháu con không nhớ, tổ tiên cũng hóa tro tàn
Nếu thế hệ chẳng hỏi, bài học cũng thành cát bụi.

Đất nước không thuộc về một vị vua
Non sông cũng chẳng của riêng thể chế.

cứngChuyện của SơnGóc nhìn An NamNguyễn Thái Sơn

Hình bên dưới là ông Đỗ Đức Cường, cha đẻ ra máy ATM của ngành ngân hàng. Chúng ta vẫn hay đi rút tiền thế nhưng có bao ...
19/10/2026

Hình bên dưới là ông Đỗ Đức Cường, cha đẻ ra máy ATM của ngành ngân hàng.

Chúng ta vẫn hay đi rút tiền thế nhưng có bao giờ tự hỏi, người chế tạo ra cái máy thần kỳ này là ai không?

Cha đẻ phát minh ra máy ATM trong hệ thống ngân hàng là người gốc Việt tên Đỗ Đức Cường. Ông là tác giả của trên 50 phát minh sáng chế, 20 năm làm việc tại ngân hàng Citibank- Mỹ, chuyên viên cao cấp cho ngành ngân hàng Hoa Kỳ.

Ông lớn lên ở vùng quê Đức Phổ, Quảng Ngãi. Những năm tuổi thơ nghèo khó, ông đã suýt bị chết đói. Sau này ông luôn tự nhủ rằng phải làm giàu, không chỉ bản thân mình mà mọi người đều phải giàu có. Có lẽ đó là lý do chính góp phần tạo nên ý chí vươn lên vượt khó mạnh mẽ của ông.

Ông khởi đầu với việc theo học tại trường Đại học Y Khoa Sài Gòn. Sau đó ông chuyển sang ngành Kỹ cơ khí tại Đại Học Phú Thọ (Đại học Tổng Hợp). Năm 1963, trong kỳ kiểm tra của một phái đoàn Nhật Bản liên quan đến vấn đề trí thông minh, ông là người có chỉ số thông minh cao nhất. Với khả năng đó, ông đã được cấp học bổng sang Nhật và theo học tại Đại học Osaka.

Ở Nhật Bản, ông vừa đi học, vừa đi làm tại công ty Toshiba. Là một người ham học hỏi, và cũng may mắn được tiếp xúc với nền công nghệ hàng đầu trên thế giới. Ông đã có bước đầu thành công tại đây. Sau đó, phía Mỹ biết được tài năng của ông và có nguyện vọng mời ông sang làm việc bên Mỹ trong lĩnh vực ngân hàng.

Gặp Giám đốc ngân hàng Citibank (Mỹ) đã từng đề nghị ông: “Dùng kĩ thuật để kiếm cho ngân hàng 1 tỉ khách hàng”. Ông Đỗ Đức Cường đưa ra 20 câu hỏi buộc ông chủ của Citibank phải thừa nhận 20 cái sai của ngân hàng và từ chối lời mời làm việc. Sự nhiệt tình, thẳng thắn cùng lời cam kết sẽ ủng hộ ông “lội ngược dòng” của Tổng giám đốc đã thuyết phục ông gia nhập Citibank. Mục tiêu của ông là “bình dân hoá dịch vụ ngân hàng” để cô bán cà phê, anh lái xe ôm cũng có thể giao dịch với ngân hàng.

Và đó là lúc ông phát minh ra máy ATM - bước tiến lớn giúp “bình dân hóa dịch vụ ngân hàng” cũng như là bước tiến lớn trong lĩnh vực ngân hàng trên toàn thế giới.

Theo Nikkei, số lượng máy ATM trên toàn thế giới trong năm 2018 là 3,24 triệu máy, riêng Việt Nam có khoảng 19.000 ATM. Đấy! Mỗi lần rút tiền ở ATM dù trong nước hay ngoài nước thì các bạn hãy nhớ cha đẻ của ATM là người VIỆT nhé!

Le Hạp
cứngChuyện của SơnGóc nhìn An NamNguyễn Thái SơnNguyễn Thái Sơn

🙏(KHỔ QUÁ GIỜ NHÀ CỬA CÒN CHƯA CÓ ĐIỆN) XIN MỌI NGƯỜI THƯƠNG GIÚP MỘT HOÀN CẢNH ĐAU LÒNG    Anh:  Lò Dùn Heng, SN 08/03/...
19/10/2026

🙏(KHỔ QUÁ GIỜ NHÀ CỬA CÒN CHƯA CÓ ĐIỆN)
XIN MỌI NGƯỜI THƯƠNG GIÚP MỘT HOÀN CẢNH ĐAU LÒNG

Anh: Lò Dùn Heng, SN 08/03/1972, thôn Nậm Khá, xã Tân Quang, tỉnh Tuyên Quang, đã mất lúc 16h ngày 17/10/2026.

Anh ra đi, trong nhà chỉ còn người mẹ già cao tuổi, không minh mẫn và người chú ruột sống cùng. Cảnh nhà nghèo khó, đến việc lo một tang lễ cho anh cũng không biết phải xoay xở thế nào.

Thương một người đã khuất chưa thể yên lòng, thương người mẹ già và người chú bơ vơ trong lúc tang gia… 🙏

Rất mong mọi người mở lòng, chung tay giúp anh một phần chi phí mai táng để anh được về nơi an nghỉ cuối cùng.
Mỗi sự sẻ chia, dù ít hay nhiều, đều vô cùng quý giá. ❤️

Mỗi sự giúp đỡ xin được trân trọng và biết ơn vô cùng. 🙏❤️

💌 Mọi sự ủng hộ xin gửi về:
Nguyễn thái Sơn
Stk: 6844446666
✅NGÂN HÀNG Techcombank

cứngChuyện của SơnGóc nhìn An NamNguyễn Thái SơnNguyễn Thái Sơn

🍀Các cha mẹ, quý MTQ chuyển khoản xin ghi rõ nội dung: "Tên Fb của bạn+ mai táng anh Heng" giúp mình với ạ, để ko lẫn với chương trình khác và mình tiện cập nhật DS và đối chiếu

cứngChuyện của SơnGóc nhìn An NamNguyễn Thái SơnNguyễn Thái Sơn

Tôn Thất Hiệp và trận đánh năm 1673Vào hậu bán thế kỷ XVII, ở lãnh thổ Việt Nam xảy ra những trận giặc chót của cuộc Trị...
19/10/2026

Tôn Thất Hiệp và trận đánh năm 1673

Vào hậu bán thế kỷ XVII, ở lãnh thổ Việt Nam xảy ra những trận giặc chót của cuộc Trịnh – Nguyễn phân tranh.

Năm 1648, Trịnh đánh vào Nam Bố Chính và cửa Nhựt Lệ, bị thua to vì tướng Đàng Trong là Trương Phúc Phấn giữ vững lũy Trường Dục.

Năm 1655, quận Trịnh lại khuấy rối vùng Nam Bố Chính. Tướng Nguyễn Hữu Dật bày kế với Hiền Vương, xin đánh bất thình lình vào địa phận chúa Trịnh, Hiền Vương đồng ý. Cùng với Nguyễn hữu Tấn, Nguyễn hữu Dật đánh đâu thắng đấy, chiếm được bảy huyện ở tận Nghệ an. Các quan lại địa phương lần lượt đầu hàng, dân chúng tiếp đón nhưng họ đâm ra thất vọng – thuế điền, nhứt là thuế thân (sai dư tiền) đánh quá cao, mặc dầu đó là thuế biểu áp dụng thường lệ ở Đàng Trong, Nguyễn Hữu Dật phủ dụ dân chúng rằng biện pháp ấy chỉ tạm thời – nhưng không mấy ai tin tưởng lời hứa hẹn đó.

Quá hăng hái, Dật muốn tiếp tục tấn công nhưng Hiền Vương dạy Dật nên cẩn thận, mọi việc binh nhung phải bàn bạc trước với Nguyễn Hữu Tấn.

Để giải quyết tình trạng “mắc sa lầy” ở xứ lạ quê người, Dật phát triển tâm lý chiến loan tin làm hoang mang đối phương, bí mật giao thiệp với Trịnh Tạc. Mặc dầu đã cho Hiền vương biết trứơc nhưng việc tư thông của Dật gây thêm nhiều thắc mắc với Nguyễn Hữu Tấn – có lẽ Nguyễn Hữu Tấn ganh công. Vì tiểu tâm, Nguyễn hữu Tấn rút thình lình tất cả quân số về Nam, cố ý bỏ Nguyễn hữu Dật ở lại một mình. Chừng hay được, Dật vẫn trầm tĩnh, ra lịnh cho 30 vệ sĩ – số vỏn vẹn ở bên cạnh Dật – phất cờ gióng trống trong lúc rút lui, khiến quân Trịnh không dám truy kích theo.

Thế là chiến thắng đã hóa ra chiến bại.

Cuối năm 1661, đầu 1662, Trịnh Căn và Lê Thời Hiến đánh thình lình vào tận lũy Đồng Hới. bị thất thế, Dật rút vào lũy để thủ hòa. . .

Bấy giờ, Hiền vương hiểu thựcl ực của mình hơn bao giờ hết. Theo lời tâu của Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tấn, Chúa quyết định xây thêm hai lũy nhỏ: Trấn Ninh và Sa Phụ để kiện tòan hệ thống sẳn có.

Khỏang thời gian hưu chiến 10 năm (1662-1672) giúp Hiền vương chỉnh đốn thuế khóa, tích trữ lương thảo, Nông Lại tư đặt ra kế họach do ký lục Võ Phi Thừa sọan thảo, nhằm mục đích đo diện tích các ruộng đất đang khẩn hoang và đã khai khẩn; thuế đánh khá nặng: một mẫu (chừng 1/3 hectare) ruộng hai mùa phải đóng 40 thắng lúa (1thăng –non 3 lít) và 8 hạp gạo trắng.

Năm 1667, Trịnh Tạc đuổi Mạc Kính Vũ; Vũ chạy trốn qua Tàu, mầm nội lọan gần như dứt hẳn.

*

Tháng 6 dương lịch 1672, Trịnh Tạc kéo binh vào Nam, quyết tiêu diệt chúa Nguyễn. việc bố trí rất khéo léo, chu đáo.

Trịnh Căn làm nguyên sóai, cai quản thủy quân.

Lê Thời HIến (đã từng được tín nhiệm hồi chiến cuộc Nghệ An) thống suất bộ binh.

Mỉa mai nhứt là hòang đế Lê Gia Tông, 12 tuổi, cũng được chúa Trịnh đem đi “ngự giá thân chinh”.

Tất cả quân lực chừng 100.000 người nhưng loan tin là 400.000!

Khi nghe viên Trân thủ Nam Bố Chính cấp báo, Hiền vương bảo với các quan: “Trịnh Tạc đã suy thời nên vào đâyđánh m6ọt trận chót. Kinh ngiệm xưa nay thì kẻ liều mạng như Tạc bao giờ cũng thảm bại”.

Hiền Vương bàn qua việc lựa chọn vị nguyên sóai của đàng Trong. Các quan đồng ý giao trách nhiệm ấy cho hòang tử Tôn Thất Hiệp, con trai của Hiền Vương. Hiệp còn trẻ, chưa 9dược 20 tuổi, đang giữ chức Chưởng cơ, chưa từng ra trận lần nào cả!

Tại sao có sự lựa chọn đó? Phải chăng dụng ý của Hiền Vương là cận thần làđối phó với chúa Trịnh về uy tín chính trị, biểu dương sự trưởng thành của Đàng Trong trên mọi địa hạt.

Đàng Ngoài, Trịnh Căn (40 tuổi con của Chúa) làm nguyên sóai thì ở Đàng Trong, Tôn Thất Hiệp (non 20 tuổi – con của chúa) đâu kém năng lực!

Trịnh Tạc (67 tuổi) đi theo ủng hộ con; Hiền Vương (55 tuổi) cũng có mặt. Nói chung, ta thấy Đàng Trong rất trẻ trung, thiếu một hòang để tượng trưng. Nhưng quân sĩ đôi bên dư hiểu rằng các chúa Trịnh đã nhiều lần bạc đãi, xử giảo các hòang đế họ Lê. Và phen nầy Lê Gia Tông ra trận với số phận một tù binh của chúa Trịnh, không hơn không kém.

Bộ tham mưu của nguyên sóai Hiệp gồm vệ úy Mai Phúc Lãnh và ký lục Võ Phi Thừa.

Quân Đàng Trong kéo ra Quảng Bình. Chưởng ơc Trương Phúc Cang (con Trương Phúc Phấn) đi tả tiên phuông, giữ lũy Trấn Ninh, đó những đòn tấn công mãnh ☲ệt của địch. Lão tướng Nguyễn Hữu Dật chỉ được giữ lũy Sa Phụ (hữu ngạn sông Nhựt Lệ), ở mặt trận thứ yếu. Hữu Dật bị đặt vào địa vị ấy, phải chẳng do sự cố ý của Hiền Vương, hoặc vì lý do chiến thuật.

Vào khỏang tháng 9-10 dương lịch 1672, Trịnh Căn và quân sĩ đến Nam Bố Chính.

Lạ thay! Các tướng của Trịnh và Nguyễn nhìn nhau, dò xét, hăm dọa nhau hơn ba tháng trường rồi mới chịu đánh thật sự bằng gươm dáo và đại bác.

Mở đầu, Trịnh Căn dùng tâm lý chiến, kêu gọi Đàng Trong, tố cáo việc các chúa Nguyễn không phục tùng nhà Lê, xây thành đắp lũy, bày sưu cao thuế nặng . . .đồng thời, Trịnh Căn thử tấn công vào lũy Đồng Hới, chọn nơi kém phòng thủ nhứt của đối phương để xây một chiến lũy khác đối diện, rồi đưa 1.000 chiến thuyền (?) đến vàn sông Gianh và vàn sông Nhựt Lệ, chờ đổ bộ.

Biết tình thế nguy ngập, Tôn Thất Hiệp khiến tham tướng Lễ đắp nên lũy Trấn Ninh, bố trí thêm súng thần công – mặt khác, cấp báo với Hiền Vương.

Hiền Vương dọ ý kiến. cai cơ Tổng Đức Minh tâu: Quân Trịnh đi đường xa, sẽ gặp khó khăn về lương thảo. Ta nên cố thủ tại lũy, trì hõan thời giờ, chờ khi chúng mòn mỏi rồi hãy đánh.

Trần Đinh Ân đưa kế họach: Thực lực của quân Trịnh dưới 100.000 người, không quá hùng mạnh như chúng loan tin. Ta cứ đồn rằng quân ta đông đảo, 160.000 người, hiện đang mộ thêm 100.000 nữa, tất cả do hòang tử HIệp chỉ huy, ắt địch quân phải xao xuyến, hoang mang.

Hiền Vương đồng ý, tuyển mộ thêm quân rồi tức khắc hạ lệnh chỉnh đốn các trạm địch, tăng cường sự phòng thủ miền duyên hải, từ Đồng Hới đến Huế.

Sứ giả của Trịnh Căn đến trước lũy Trấn Ninh. Hòang tử Hiệp sai Cai cơ Tú Minh ra tiếp kiến. Cuộc đấu khẩu diễn ra sôi nổi. luận điệu cho rằng các chúa chống lại nhà Lê đã bị Tú Minh bác bỏ: Các Chúa Nguyễn rất trung thành với nhà Lê vì vậy cương quyết diệt họ Trịnh, kẻ lấn quyền, áp chế nhà Lê.

Dứt cuộc đàm phán ngắn ngủi ấy, Nguyễn Hữu Dật bàn với hòang tử HIệp:

- Tên sứ giả nọ trở về báo cáo thái độ cứng rắn của ta cho Trịnh Căn biết, Trịnh Căn tức giận sẽ tấn công lập tức. Quân sĩ ta phải sẵn sàng ứng phó từ giờ phút này.

Tháng 1 dương lịch 1673, phó tướng của quân Trịnh là Lê Thời Hiến xua quân, hạ trại đối diện lũy Trấn Ninh. Đợt tấn công đầu tiên của Hiến bị tan vỡ nhanh chóng. Trịnh Tạc nổi xung, nghiêm phạt các quân bại trận.

Với lực lượng cũ, tăng cường thêm 3.000 quân, Lê Thời Hiến hùng hổ mở cuộc tấn công thứ hai. Đông như kiến cỏ, quân Trịnh liều chết xung phong mãnh liệt, dùng chất “bộc phá” đặt vào lũy Trấn Ninh, đốt cháy dẫn hỏa treo vào diều giấy thả qua tận chót lũy, đào hầm ẩn núp dưới cơn mưa đạn do quân sĩ Đàng Trong từ trên lũy nã trả xuống như mưa.

Chỉ trong vòng một ngày chiến đấu, lũy Trấn Ninh bị phá nhiều chỗ, bị chiếm, giải vây được rồi bị tái chiếm đến ba bốn lượt.

Hoảng sợ, Trương Phúc Cang toan bỏ lũy, qua thủ bên này sông Lê Kỳ nhưng hòang tử Hiệp không đồng ý, e tổn hại cho sĩ khí ba quân. Bấy giờ, hòang tử Hiệp nghĩ đến các giải quyết chót: Sai quân phi ngựa đến lũy Sa Kỳ, truyền cho lão tướng Nguyễn Hữu Dật phải tức tốc qua lũy Trấn Ninh để cứu khổn.

Nhận lịnh ấy, Nguyễn Hữu Dật lạnh lùng trả lời: “Ta chỉ lo gìn giữ lũy Sa Phụ nầy mà thôi. Ngay từ ồi đầu chiến trận, ta không được ai chia sớt trách nhiệm nào ở lũy Trấn Ninh cả. Ta không dám đi!” Lúc vận mạng đàng Trong như chỉ mành treo chuông, tại sao Nguyễn Hữu Dật bất tùng quân lịnh? Chúng ta nên hiểu tâm trạng của Nguyễn Hữu Dật lúc ấy, tuổi quá cao, 69 tuổi. Phải chăng Nguyễn Hữu Dật bất mãn khi thấy mình bị bố trí ở cánh quân không quan trọng? Hiền Vương không còn tín nhiệm đầy đủ nơi Dật? Hai mươi bốn năm về trước, khi còn là Cai cơ, lãnh chức ký lục ở dinh Bố Chánh, Dật đã một phen bị tình nghị “thông đồng với Chúa Trịnh” nhơn đó bị giam. Sau Hiền Vương tha tội, đuổi Dật về làm văn chức ở chánh đinh để tiếp tục theo dõi hành động tư tưởng. Hồi ấy, kẻ ám hại Dật chính là Tôn Thất Tráng, cha vợ của Tôn Thất Hiệp bây giờ. Rồi đến chiến sự Nghệ An còn nóng hổi! Dật cũng bị Tôn Thất Tráng, nhứt là Nguyễn Hữu Tấn xuyên tạc sự thật, dèm pha với Hiền Vương về tội “thông đồng với địch”. Tuy biết sự thật đen trắng ra sao nhưng Hiền Vương không hề khiển trách những kẻ đã vu khống Nguyễn Hữu Dật. Rất may là Tấn Đã chết, nếu không, chưa chắc phen nầy Hiền Vương còn thu dụng Dật ở nhiệm vụ không quan trọng là giữ lũy Sa Phụ! “Nhứt chiến tài tình thiên cổ lụy”. Sách lược “liên lạc với địch để tìm hiểu rồi ly gián địch: đã được Dật áp dụng đem nhiều kết quả có lợi cho sự nghiệp Đàng Trong nhưng mấy ai chịu hiểu giùm. Dầu muốn hay không, Dật thấy sự nghiệp tinh thần của mình bị sụp đổ, sau 50 năm phò chúa, bằng xương bằng máu (từ hồi Sãi Vương còn sống).

Nhưng phút giây bất mãn ấy chỉ thỏang qua.

Dật hối hận ngay, chạy nhanh lên lũy Sa Phụ, đứng quan sát thực tế của chiến trận. Bên kia sông, súng thần công nổ vang rền, khói bốc mịt trời che lấp lũy Trấn ninh. Chắc chắn Lê thời Hiến chiếm ưu thắng và tướng sĩ Đàng Trong đang đại bại ở ngay mặt trận chánh.

Dật dư hiểu: Nếu mình không đi cứu viện thì hòang tử Tôn Thất Hiệp phải đi cứu viện – và giờ nầy đang đi. Liệu vị nguyên sóai quá trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm ấy đủ sức ứng phó? Dật tức tốc lên yên, kéo quân đến Trấn Ninh, dọc đường, Dật cẩn thận vạt vỏ viết vào thân cây mấy chữ tóm tắt: “Hữu Dật đã qua cứu viện lũy Trấn Ninh, xin hòang tử đến giữ lũy Sa Phụ đang bỏ trống”.

Đọc tin ấy, hòang tử Hiệp qua Lũy Sa Phụ.

Để chận nẻo qua sông của quân cứu viện, Trịnh Căn khiến Tham đốc Thắng đưa 30 chiến thuyền vào tuần tiểu sông Nhựt Lệ nhưng bị hòang tử Hiệp bố trí đánh tan.

Trời tối như mực, ngửa bàn tay không thấy, khi Nguyễn Hữu Dật đến Trấn Ninh; binh sĩ lớp chết, lớp bị thương, số còn lại; chiến đấu gần như tuyệt vong. Dật ra lịnh gom nhánh cây, cỏ khô, đốt lên sáng rực. Biết có viện binh đến, quân Trịnh hỏang hốt, không dám tiến. Suốt đêm, Dật đốc suất quân sĩ tích cực sửa chữa khỏang lũy khá dài bị phá hư (30 trượng: 120mét). Nhưng trời vừa rạng sáng, Lê Thời Hiến lại tấn công. Quân sĩ Đàng Trong vững tinh thần, chống trả mãnh liệt. Có lẽ trong giờ phút ấy Nguyễn Hữu Dật đã khích lệ quân sĩ với câu nói: “Kẻ ở trước mặt chúng ta chính là bọn ngọai bang!”

Ngày ấy, hai bên liều chết, xung phong, bị phản xung phong, rồi liên tiếp nhiều ngày như thế . . Quân Đàng Ngòai chết quá nhiều. Quân Đàng Trong chết không kém.

Hiền Vương sai người đến trận địa để tìm hiểu, Dật đáp: “Xưa kia, quân ta đánh tận địa phận của chúng ở Nghệ an vậy mà chúng sợ ta, huống hồ hôm nay ta đã làm chủ tình hình tại đất nhà, có thành cao, hố sâu ngăn giữ”. Dật cũng viết thơ với Hiền Vương, thề sẽ đem hết tài sức đềnđáp ơn chúa, nếu sơ sót thì xin chịu tội theo quân luật.

Gíó bấc thổi mạnh, mưa phùn lê thê, ray rứt, lạnh lẽo hơn bao giờ hết. Tự nhận rằng không thắng nổi Đàng Trong, Trịnh Tạc bắt đầu trở về: Tiết trời bất lợi; sau bảy tháng vắng mặt, ở Hà Nội liệu xảy ra biến cố gì trong phủ chúa chăng?

Tất cả tù binh, thường dân . . . được Trịnh Tạc cho tiền bạc quần áo, phóng thích tại chỗ; họ muốn đi về đâu thì cứ đi.

Sa vào kế nghị binh của hoàng tử Hiệp, Lê thời Hiến không dám nán lại chiến đấu, bèn kéo binh tút lui sau khi hay tin các chiến thuyền của Trịnh Căn đã rời cửa Nhựt Lệ theo . .. trận gió ngược.

Chiến trận đã tàn!

Mùi thuốc súng như còn phảng phất. Nhưng khói hương bắt đầu tỏa nghi ngút từ bên trong lũy Trấn Ninh, khói hương của lễ giải oan do hòang tử Hiệp tổ chức cho oan hồn tử sĩ Đàng Trong.

Hòang tử không quên đặt đàn tràng bên kia lũy, bày cuộc lễ tương tự để cầu siêu cho tử sĩ Đàng Ngoài.

Những người chết được yên ủi phần nào khi thấy con cháu của họ bắt đầu từ đấy hưởng thanh bình – mãi 100 năm sau, mới chết chóc nữa!

Theo lịnh của hòang tử Hiệp, số tù binh ở Đàng Ngòai –và già trẻ bé lớn, nạn nhân thời cuộc –bấy lâu bị giam giữ có thể trở về quê, với tiền bạc, quần áo cấp phát đẩy đủ; không một ai bị giết cả.

Tháng 4 dương lịch 1673, hòang tử đến Thạch Xá. Hiền Vương mừng rỡ, khen ngợi, ban thưởng 100 lượng vàng, 1.000 lượng bạc, 50 tấm vóc gấm.

Hòang tử Hiệp đáp lời lẽ chân thành:

“Nhờ uy lực của cha, nhờ công lao của tướng sĩ mới có cuộc vui đại thắng này. Một mình con làm sao thắng nổi?” Hiền Vương khen: “Con hãy nhận vì con rất xứng đáng”.

Hòang tử Hiệp nhận lãnh vàng bạc nhưng liền sau đó chọn cho mình một thái độ: Phát nguyện trở thành phật tử - cà tích cực hơn – từ bỏ gia đình, thế phát xuất gia không chút do dự, tuy mới 20 tuổi.

Sử chép: Khi chỉ huy chiến trận, ông hòang Hiệp sống khắc khổ, ngồi trong trại, chỉ có hai vệ sĩ túc trực bên cạnh. Lần nọ, một lão già ở Quảng Bình tên Bật Nghĩa đến trại với ý định “tiến” cho ông hòang một thiếu nữ xinh đẹp. Ông hòang từ chối nhưng không quên cấp cho lão già 10 quan tiền, hiểu rằng người cha nọ hành động như vậy chỉ vì quá túng thiếu cơm áo, thời loạn.

Sự chọn lựa bất ngờ của hòang tử Hiệp không khó hiểu lắm. Tám tháng ở chiến trận là cả một đời người, là cả thể kỷ thứ XVII ở Việt Nam! Hẳn ông hòang Hiệp thầm đau xót cho đường họan lộ quá đắng cay của lão tướng Nguyễn Hữu Dật! Giữa cảnh máu xương lầy lội, tiếng đại bác vang rền, mùi diêm sanh nồng nặc, ông hòang dư hiểu rằng từ bấy lâu các thương gia Hòa Lan, Bồ Đào Nha cạnh tranh nhau ở Đàng Ngòai, ở Đàng Trong, để mua tơ lụa, quế, trầm hương và bán các nguyên liệu giết người. Họ lấn nhau, dùng mọi thủ đoạn tinh vi nhứt.

Ông hoàng cũng thấy tận mắt những chiếc đồng hồ kiểu Tây phương và tuy xa gia đình, ông hay tin đứa con trai của mình – Tôn Thất Lễ - sau cơn bệnh nặng mà các ngự y điều trị không nổi, đã rửa tội theo phép Công giáo (1674).

Sanh, lão, bịnh, tử . . ông hòang Hiệp nhận rõ, thấm thía, không kém Thái tử Tất Đạt Đa ngày xưa khi ra bốn cửa hòang thành.

Ông “dũng mãnh, tinh tấn’, khiêm tốn nhận mình là một chúng sanh trong kiếp sát na. Vì đã từng đau khổ giữa cuộc thế, đã từng đóng vai người anh hùng, ông muốn thành tâm tìm một cõi cực lạc thực tế, sống ẩn dật như nhà hiền triết đủ can đảm, im lặng.

Ông liễu đạo năm 23 tuổi (1653 – 1675) , ngày rằm tháng 6 năm Ất Mão, an táng ở làng Hiền Sĩ huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, có lẽ không lưu lại một bút tích, một bài thơ truyền khẩu nào. Nhưng hậu thế tưởng còn nhận được hình bóng bất diệt của ông qua nụ tười phảng phất trên môi của các tượng Bồ Tất trong chùa, giữa tiếng kệ kinh.

Trăm năm sau, anh em Tây Sơn phất cờ khởi nghĩa (1773), đại phá quân Thanh (1789) làm rạng danh tòan đất Việt.

(Trong quận 10 thành phố Hồ Chí Minh (gần trường đua Phú Thọ, nay là sân vận động), chúng ta có đường Tôn Thất Hiệp, nhưng không biết có mấy ai cư ngụ trên đường biết đến lịch sử của con người tài đức này!)

-------------

Nói Về Miền Nam

Tác giả: Sơn Nam

cứngChuyện của SơnGóc nhìn An NamNguyễn Thái Sơn

Address

Hoàng Trường Sa
Da Nang
50000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Góc nhìn An Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Museum

Send a message to Góc nhìn An Nam:

Shortcuts

Share