01/01/2026
🎙️ ĐÀI SÀI GÒN – CHỢ LỚN TỰ DO: TỪ CƠ SỞ NỘI THÀNH ĐẾN CHIẾN KHU (phần 2)
Sau khi điểm lại bối cảnh lịch sử và quyết định thành lập Đài Sài Gòn – Chợ Lớn Tự do, tác giả Nguyễn Khắc Cần tiếp tục làm rõ những điều kiện cụ thể giúp Đài được xây dựng nhanh chóng trong năm 1950. Đó là sự kết hợp giữa tình hình chiến trường, hệ thống cơ sở nội thành vững chắc và sự che chở bền bỉ của nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn và vùng phụ cận.
📌 Dưới đây là trích đoạn phần tiếp theo trong bài viết của Nguyễn Khắc Cần:
"Nhờ thừa hưởng kinh nghiệm xây dựng Đài Nam Bộ Kháng chiến, chỉ trong sáu tháng, Đài đã được nhanh chóng hoàn thành và chính thức phát thanh ngày 25 tháng 01 năm 1951, mười hai ngày trước Tết Tân Mão (06/02/1951). Công suất của Đài Tiếng nói Sài Gòn – Chợ Lớn Tự do bằng công suất máy mới của Đài Tiếng nói Nam Bộ (máy mới Đài Tiếng nói Nam Bộ được sử dụng từ 01/12/1950; công suất này phải đợi sau ba năm thành lập Đài mới đạt được).
Sở dĩ Đài Sài Gòn – Chợ Lớn Tự do được nhanh chóng xây dựng là vì tình hình chiến trường năm 1950, tuy rất gian khổ nhưng vẫn có nhiều thuận lợi. Cơ sở ở Sài Gòn, dù bị khủng bố ác liệt, nhưng vẫn giữ khá tốt. Giao liên nội thành trong đó có cơ sở của anh Huỳnh Tấn Phát ngày càng có thêm nhiều kinh nghiệm. Đường chuyên chở từ Sài Gòn qua thị xã Phú Cường, Tân Khánh, hoặc từ Sài Gòn qua Thủ Đức, Dĩ An để vào chiến khu Tân Long (Thủ Dầu Một) gần hơn về miền Tây Nam Bộ. Chủ yếu vì chiến trường miền Đông ác liệt nhưng chiến tranh du kích vẫn bám sát các đô thị, cơ sở ở Sài Gòn và vùng phụ cận; đồng bào các nơi hết lòng che chở.
Ngay cả các lò chén của người Hoa ở Lái Thiêu (Thuận An), sát nách địch, cũng góp phần cất giấu và gồng gánh nặng nề, vượt qua nguy hiểm đưa vật tư vào chiến khu Tân Uyên, qua biết bao vành đai đồn bót kiểu De La Tour.
Đài được lắp đặt đầu tiên tại địa điểm cầu Cây, xã Bình Mỹ, ở phía Đông đường Phước Hòa – Tân Uyên, cách trung tâm Sài Gòn độ 30 km, sân bay Biên Hòa không xa hơn 20 km. Suốt thời gian ở chiến khu, Đài chỉ dời địa điểm ba lần trong phạm vi 10 km, dọc đường Tân Uyên, và một địa điểm ở Mộc Hóa, cách Vàm Cỏ Tây 3 km về phía Bắc (ngã ba Hồng Minh), xã Bình Phong Thạnh, giữa Tân Thiết và Đá Biên, cách Sài Gòn 60 km.
Người chịu trách nhiệm chung xây dựng Đài về kỹ thuật là Giáo sư Lê Văn Huấn, sử dụng hợp pháp cửa tiệm vô tuyến điện tại đường Nguyễn Trãi. Giáo sư vừa cung cấp vật tư, vừa đưa vào chiến khu các học trò do ông đào tạo: anh Đặng Trung Hiếu (sau là Giám đốc Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh) phụ trách kỹ thuật, cùng với anh Dương Bá Nhẫn (sau là kỹ sư ở Cholimex), anh Vạn Thái Sanh, anh Tùng (tức Nam).
Ở giai đoạn chót, Giáo sư dù luôn đau ốm vẫn vào Đài ở chiến khu Đ, sống gian khổ cùng các học trò, điều chỉnh hoàn thành máy phát, giúp Sài Gòn nghe trong, rõ. Khó khăn là vấn đề cất máy móc chống càn quét của địch, chứ phần vật tư kỹ thuật khá đầy đủ, rất mới. Nguồn điện được bảo đảm nhờ ắc quy, máy nổ rất tốt. Sau trận đánh lớn ở Trảng Bom, Trung đoàn 310 (Biên Hòa) tặng cho Đài một máy phát điện Simcar 5; cả chục người khiêng đưa vào hầm bảo vệ rất khó nhọc, nhưng đã cung cấp điện tối ưu, tránh khỏi nỗi lo âu về điện an toàn liên tục – huyết mạch chính của cả hệ thống phát thanh. Phòng bá âm dã chiến cũng dễ làm ở miền Đông với vách đất, cỏ tranh và khung tre, được cách âm tốt.
Radio để theo dõi các đài trong và ngoài nước, máy thu thanh cho hiệu thính viên dồi dào, có điện ắc quy liên tục, được bộ phận kỹ thuật của anh Hiếu hết lòng chăm lo. Micro hiện đại, nhạy bén giúp đưa âm thanh chính xác. Tất cả làm chúng tôi nhớ lại biết bao khó khăn gian khổ của những năm đầu ở Đài Tiếng nói Nam Bộ Kháng chiến. Nói thế để thấy tình thế chung đã thay đổi, và để thấy sức lực của nhân dân Sài Gòn được thể hiện ngay trong cách cung cấp vật liệu quý giá mà địch cho là đồ “quốc cấm”."
📡 Trích đoạn cho thấy quá trình xây dựng Đài Sài Gòn – Chợ Lớn Tự do gắn liền với hệ thống cơ sở nội thành, các tuyến giao liên và điều kiện kỹ thuật cụ thể của chiến trường miền Đông. Trong đó, cơ sở của Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát là một phần của mạng lưới bảo đảm cho việc vận chuyển, lắp đặt và duy trì hoạt động của Đài trong giai đoạn đầu.